Tìm Hiểu Về GIÁP Từ Một
Đơn Vị Hành Chính Xưa Của Làng TRƯỜNG SANH, Quảng Trị - Khê Giang
Là
một đại xã (làng lớn) của huyện Hải Lăng xưa, nhưng Trường Sanh (Hải Trường,
Hải Lăng, Quảng Trị) không gọi cấp đơn vị hành chính dưới xã là thôn, ấp hay
phe mà gọi bằng giáp. Trường Sanh đại xã hay Trường Sanh ngũ giáp là tên gọi
định danh cho ngôi làng có diện tích và dân số đứng bậc nhất của tổng Câu Hoan
thời bấy giờ. Với năm đơn vị cư trú tương ứng cấp thôn đó là giáp Đông, giáp
Mỵ, giáp Trung, giáp Hậu và giáp Phước. Sau khi giáp Phước tách ra thành làng
Trường Phước nay thuộc xã Hải Lâm, Trường Sanh đại xã vẫn còn tồn tại 4 giáp
cho đến năm 1975 và sau đó được đổi thành tên gọi mới là Đông Trường, Mỵ
Trường, Trung Trường và Hậu Trường.
So
với các làng cổ thuộc huyện Hải Lăng Quảng Trị, tên gọi tổ chức đơn vị cư trú
giáp là một nét đặc trưng của làng Trường Sanh. Vậy giáp là gì, có nguồn gốc
xuất xứ từ đâu?
Theo
“Đại Việt sử ký toàn thư”, thuật ngữ giáp được Khúc Hạo xác lập vào năm 907
thay từ hương do Cao Biền lập ra dưới đời Hàm Thông (860-874), tuy nhiên giáp
của Khúc Hạo lúc này tương đương với đơn vị làng chứ không phải cấp thôn như
giáp của Trường Sanh, Quảng Trị.
Vào
năm 1074 dưới đời Tống, Vương An Thạch đề ra chính sách “Bảo giáp pháp” là tổ
chức địa vực bên trong của lý, dựa theo chính sách đó đến năm 1419 Lý Bân đặt
ra quy định rạch ròi về đơn vị cư trú này, cụ thể giáp bao gồm mười hộ và do
giáp thủ điều khiển, tùy theo số hộ, một xóm có thể được tổ chức thành một hay
nhiều giáp. Trong các thế kỷ sau, giáp là đơn vị tổ chức cùng cấp với thôn,
phe… thuộc làng, ngoại lệ cũng có một số nơi giáp lại tương đương cấp xóm hoặc
cấp làng.
Theo
cuốn “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra” –
Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1981. Qua thống kê có
tới 18 đơn vị hành chính mang tên giáp, trong đó 16 đơn vị tương đương cấp
thôn, 01 đơn vị tương đương cấp xã và 01 đơn vị tương đương cấp phường. Từ
những cứ liệu trên ta thấy giáp là một đơn vị hành chính hẳn hoi tồn tại ở nước
ta từ thế kỷ X cho đến đầu thế kỷ XIX. Thuật ngữ này hiện diện rải rác từ Hòa
Bình đến châu thổ sông Hồng, qua Thanh Hóa, Quảng Trị và vào đến Quảng Nam, Phú
Yên…
Tên
của các giáp thường đặt theo hai cách, một là gọi theo phương hướng và vị trí
như: đông, tây (đoài), trung, nam, bắc. Cách thứ hai là gọi theo số thứ tự:
nhất, nhị, tam, tứ… Gọi tên theo phương vị, ngoài Trường Sanh, Quảng Trị còn có
rất nhiều nơi sử dụng như: làng Phương Để, huyện Nam Chân, trấn Sơn Nam Hạ
(trấn Nam Định về sau) bao gồm giáp Đông, giáp Trung Đông, giáp Tây và giáp
Trung Tây; làng Mỹ Long thuộc xã Cối Xuyên, Hội Xuyên, Hải Dương có ba giáp là
giáp Đông, giáp Trung và giáp Nam; làng Phước Toàn thuộc Tuy Hòa, Phú Yên có:
giáp Đông, giáp Tây và giáp Trung.
Những
làng có cách gọi thứ hai, đó làng Thịnh Liệt tên Nôm là làng Sét (thuộc Thanh
Trì, Hà Nội). Thịnh Liệt có 9 giáp, từ giáp Nhất đến giáp Cửu. Về sau giáp Cửu
tách thành xã riêng, chính là làng Phương Liệt (làng Vọng). Tám giáp còn lại về
sau tách thành 8 làng riêng, lấy tên giáp gọi cho tên làng là: giáp Nhất, giáp
Nhị… đến giáp Bát. Làng Tứ Giáp (Điện Bàn, Quảng Nam) cũng có cách gọi này từ
giáp Nhứt đến giáp Lục.
Đặc
biệt có nơi đã kết hợp cả hai yếu tố trên, đó là làng Đông Ngạc (Bắc Từ Liêm,
Hà Nội): Đông Giáp Nhất, Đông Giáp Nhì, Đoài Giáp Nhất, Đoài Giáp Nhì, Hoà Giáp
Nhất, Hoà Giáp Nhì, Ngạc Giáp Nhất, Ngạc Giáp Nhì.
Tuy
nhiên đến thế kỷ thứ XVI không biết vì lý do gì việc đặt tên giáp không còn quy
định theo tên phương vị và số thứ tự nữa, việc đặt tên được tự do hơn, vào thời
điểm này rất nhiều nơi phá lệ trong đó có giáp Phước của Đoan Trang (Trường
Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị) và các giáp Kim Uyên, Ngọc Tĩnh, Cẩm Đường, Lan Đình
(xã La Uyên thuộc Thượng Phúc, trấn Sơn Nam Thượng: bao gồm Hà Nội, Hưng Yên,
Nam Định, Ninh Bình ngày nay); tương tự làng Tứ Giáp (Điện Bàn Quảng Nam) có
giáp: Phong Đại, Phong Trung, Ngọc Hoa, Châu Minh, Phong Niên và Khả Phong…
Hiện
nay có rất nhiều quan điểm, nhận định về vai trò và tính chất của giáp. Theo
cách phân loại của nhà Dân tộc học Trần Từ, giáp là một trong năm dạng tập hợp
người bao gồm: Tập hợp người theo địa vực như ngõ, xóm; Tập hợp người theo
huyết thống họ tộc; Tập hợp người trong những tổ chức tự nguyện của các thành
viên phe, hội, phường; Tập hợp người trong bộ máy chính quyền cấp xã và tập hợp
người theo lớp tuổi… Từ đó ông cho rằng giáp có vai trò quan trọng trong các
sinh hoạt làng xã, nhất là về tôn giáo. Gần với quan điểm của tác giả Trần Từ,
P. Gourou cho rằng: “Giáp là một tập hợp có tính cách tôn giáo việc gia nhập
mang yếu tố gia đình và có trung tâm là một ngôi đền…”.
Theo
G. Dumontier: “Trong một số làng, giáp là một hội lo việc tang ma, tương trợ;
trong một số làng khác, giáp sinh hoạt như một hội có mục đích cùng làm một số
nghi thức tôn giáo hay tập tục; giáp cũng có thể chính thức đảm nhiệm việc phân
chia cho các gia đình trong giáp phần sưu thuế mà họ phải đóng, tiến hành thu
thuế má”. Cũng theo tác giả này: Trong các xã thôn theo thiên tước (sắp xếp
ngôi thứ theo tuổi tác) không có giáp, các chức năng của nó được tổ chức theo
địa vực (thôn, xóm, ngõ) đảm nhiệm. Loại làng này ít hơn rất nhiều so với các
làng theo vương tước (ngôi thứ được sắp xếp theo tước vị vua ban).
Khác
với Trần Từ (1984), Nguyễn Tùng (Paris) bằng nghiên cứu của mình ông cho rằng:
“Giáp không phải được tổ chức theo lứa tuổi, vì tuổi tác hay đúng hơn theo ngày
ghi tên vào sổ giáp chỉ đóng vai trò phân định ngôi thứ trong giáp, chứ không
kéo theo sự tổ chức thành lứa tuổi, nhất là theo nghĩa mà các nhà dân tộc học
dùng khi nghiên cứu các xã hội ở châu Phi hay Nam Đảo”.
Cũng
trong bài viết này tác giả này tiếp tục nhận định: “…Chúng ta cũng nhận thấy
trong các giáp hầu như không có các nghi thức thụ pháp, kết nạp tập thể và
chung sống biệt lập cho các thành viên cùng ở vào lứa tuổi vị thành niên”. Tác
giả đồng thuận quan điểm của Nguyễn Văn Huyên và cho rằng giáp có của cải riêng
bằng tiền và bằng ruộng đất: “Tài sản đó là do các thành viên đóng góp, di tặng
hay cho. Quỹ xã hội của giáp được dùng để cho các thành viên vay tiền hay thuê
ruộng đất, thu nhập được dùng để tài trợ các cuộc vui chơi công cộng, tiệc
tùng, lễ hiến sinh hay cầu xin”.
Do
tính chất của giáp thay đổi tùy theo làng nên tổ chức này tùy mỗi nơi lại có
những chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Một số làng, ngoài việc lo tổ chức việc
thờ cúng Thành hoàng và các lễ hội, giáp còn đảm nhiệm việc bảo vệ an ninh trật
tự trong làng. Ngày ghi tên vào sổ của giáp quy định ngôi thứ của mỗi thành
viên, người ghi tên trước dù nhỏ tuổi vẫn có ngôi thứ cao hơn người ghi sau,
điều này cho thấy tầm ảnh hưởng lớn như thế nào của giáp.
Cũng
không đồng quan điểm với Trần Từ, bằng nghiên cứu và lập luận của mình giáo sư
Trần Quốc Vượng tin rằng: “Trước thế kỷ XIX, giáp ngoài tập hợp về người còn là
một tổ chức được xây dựng trên cơ sở địa vực, và ông tin ở đâu đó trên thực
địa, còn có thể điều tra hồi cố được các tư liệu này”.
Từ
hai luồng quan điểm trên ta thấy: Tùy địa phương, giáp có thể chỉ mang một
trong hai chức năng là đơn vị hành chính hoặc là tổ chức xã hội, nhưng cũng có
thể đồng thời mang cả hai. Nhận định về đơn vị hành chính là hoàn toàn có cơ
sở.
Trong
“Đại Nam thực lục” chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần Mậu Tý, Minh
Mệnh năm thứ 9 (1828), tháng mười, ghi rõ: “Bắt đầu đặt huyện Tiền Hải thuộc
phủ Kiến Xương, Nam Định…Lĩnh Dinh Điền sứ Nguyễn Công Trứ đến nơi, chiêu tập
phủ dụ lòng người mới yên. Bèn đem đất Tiền Châu cùng đất đối ngạn bên tả, bên
hữu đo đạc đất hoang chia cấp cho dân nghèo, thành 14 lí, 27 ấp, 20 trại, 10
giáp…” Cũng trong sự kiện này sách dẫn tiếp: “Xin biệt lập làm 1 tổng thuộc
huyện Nam Châu, được 5 ấp, 2 trại, 3 giáp ở tổng Hoành Nha…”
Tác
giả Võ Thị Phương Thúy khi nghiên cứu về làng Đông Ngạc bằng các tài liệu,
hương ước, bút tích còn lưu lại của làng đã cho rằng: tại đây giáp vừa là đơn
vị hành chính vừa là một tổ chức xã hội có cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt
động rõ ràng.
So
với các địa danh cùng tên trên cả nước, giáp tại làng Trường Sanh (Hải Lăng,
Quảng Trị) là một đơn vị hành chính được tồn tại lâu nhất (đến năm 1975) và còn
nguyên bản (không phân chia thêm giáp mới hay biến giáp thành làng như nhiều
nơi khác), nó có vai trò tổ chức xã hội quan trọng trong thời kỳ đầu của công
cuộc nam tiến, tuy nhiên những thế kỷ gần đây sau làng, tầm ảnh hưởng của họ
tộc có vẻ lấn lướt hơn thôn ấp.
Cho
dù còn nhiều quan điểm chưa thống nhất, cho dù việc phân cấp và tính quy mô của
giáp qua từng triều đại, từng địa phương có khác nhau nhưng nhận định về giáp –
một đơn vị cư trú hành chính trong vùng nông thôn Việt Nam xưa là có cơ sở và
tổ chức giáp tại Trường Sanh là một chứng cứ có giá trị. Tuy chỉ là định danh
tổ chức cư trú của một vùng nông thôn xưa, nhưng sự hình thành và lưu giữ đơn
vị giáp tại làng Trường Sanh trong hơn năm thế kỷ là một điều quý hiếm, tính từ
lúc khởi nguồn tên gọi cho đến nay là cả một dòng chảy dài của lịch sử. Sự tồn
tại của thuật ngữ này dù chỉ là tên gọi của một thiết chế xã hội nhưng nó lại
mang bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có truyền thống luôn hướng về cội nguồn
của những cư dân Quảng Trị nói riêng người Việt nói chung khi xa quê.
Khê Giang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
– Đại Nam thực lục
chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn. Cao Tự Thanh. Nxb. Văn hóa – Văn
nghệ, 2012;
– Nhân cách sử học (GS
Trần Văn Thọ, Nguyễn Quang Ngọc và Philippe Papin làm chủ biên);
– Nghiên cứu Việt Nam,
một số vấn đề lịch sử kinh tế – xã hội – văn hoá, Nxb. Thế Giới, 1998;
– Tên làng xã Việt Nam
đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra – Viện nghiên cứu Hán Nôm,
Nxb. Khoa học xã hội, 1981.
– Đại Nam nhất thống
chí, IV, Nxb Khoa học Xã hội, 1971;
– Đại Việt sử ký toàn
thư, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội, 1967 – 1968;
– Phủ biên tạp lục, Lê
Quý Ðôn – Nxb. Khoa học Xã hội, 1978;
– Nguyễn Từ Chi, Làng
truyền thống Việt Nam, Nxb Thế Giới, 1993;
Nguồn: Văn Nghệ Quảng Trị