Trần Mạnh Hảo: Sóng Cuồng Xô Dạt Đền Thơ - Chu
Mộng Long
điểm sách
Tôi không quen thân Trần Mạnh Hảo. Chỉ biết ông qua những trang thơ sóng cuồng xô dạt cả đền thơ, qua những trang phê bình dữ dội xé tan những trang văn mẫu gọi là giáo khoa. Tôi trong mắt ông chỉ là anh giáo dạy văn mẫu như một lần gặp cách đây đã 30 năm tại chiếu thơ nhỏ nhoi ở nhà một người thầy cũng dạy văn như tôi. Nhưng bất ngờ ông gửi tặng tôi tuyển tập thơ nóng hừng hực vừa ra lò và tặng cho tôi đủ loại nhà, "nhà giáo", "nhà văn", "nhà phê bình".
Thú thật, xác định tầm vóc Trần Mạnh
Hảo, tôi không đủ tự tin làm một trong các "nhà" trên. Khen hay chê
đều rất khó khăn và mạo hiểm. Có giáo sư từng xúi tôi “đánh” Trần Mạnh Hảo,
hoặc cũng có nhiều bạn văn bảo tôi nên “tránh xa” ông. Họ bảo Trần Mạnh Hảo
“Chí Phèo”, “lưu manh”, có người còn miệt thị ông là “con gà hoang tưởng nhờ
tiếng gáy của mình thì trời mới sáng”. Tôi mà chê Trần Mạnh Hảo, khác nào dí
dao vào một trái tim cháy bỏng, cháy luôn cả tay mình. Còn khen ông, không
chừng các giáo sư chửi tôi là kẻ phản đồ, đám văn nghệ sĩ tiểu yêu đố kỵ, ganh
ghét, xông vào tạt cả axit vào mặt tôi.
Tôi cứ trông các cuộc họ đánh nhau với ông mà chợn. Đoàn
quân của các giáo sư trùng trùng điệp điệp tấn công Trần Mạnh Hảo, họ tuyên bố
chiến thắng như thể đoàn quân Hy Lạp tự hào san phẳng thành Troy, nhưng lại tan
tác trong trận sóng cuồng Poseidon. Họ không biết Trần Mạnh Hảo là cơn sóng
cuồng như vậy.
Xác định tầm vóc Trần Mạnh Hảo không thể nhờ vào chiếc gậy
phê bình của các giáo sư và đám nô tài viết theo văn mẫu.
Trần Mạnh Hảo chẳng là gì cả khi thơ ông chẳng đèm đẹp, mơ
màng hay sướt mướt để được tán dương thành "tình yêu thiên nhiên",
"yêu đất nước" hay "nhân đạo sâu sắc" mà các giáo sư lựa
chọn đưa vào sách giáo khoa cho trẻ con học. Họ không thể nuốt trôi cái giọng
văn, khí văn mạnh mẽ, ngất trời nhưng cũng thăm thẳm minh triết của ông. Tầm
các giáo sư quen mây trời treo trên mái tóc với hoang tưởng thành ông tiên, sao
có thể cảm nổi cái câu thơ Trần Mạnh Hảo dành cho Khuất Nguyên: “Tóc bạc cả nồi
cơm/ Ta biết làm gì với chòm râu rơm rác/ Với vòm trời úp xuống như nơm…”? Tim
các giáo sư chỉ đủ rung trong cái ao tù bình lặng với vài con cá lia thia mà
nhầm tưởng là đã hết lòng yêu nước thương nòi, sao có thế cảm được con sông
Hồng quặn đau như người mẹ sinh con “Khi con vừa rời lòng mẹ/ Con đỏ hoe như
một cục bùn non”, hay “Sông Hồng lụt cả ca dao/ Con cò bị bão dạt vào lời ru”? Miệng
các giáo sư chỉ biết ăn nhậu hỉ hả sau những bội thu nhờ bán văn mẫu, sao có
thể nuốt trôi cái nỗi niềm “Con mới hiểu vì sao hạt thóc/ Lại mang hình con mắt
mỏi mòn trông”? Đám giáo sư dỏm và bọn nhà thơ được các giáo sư tâng bốc càng
không thể dám đọc đến câu thơ móc ruột chúng: “Con bò thông minh hơn nhà bác
học/ Thơ phú nào cũng rặt bọn ăn theo”. Khi chỉ có leo lẻo lòng tự hào truyền
thống, chắc chắn các giáo sư phải ngơ ngác trước cái hình ảnh treo lửng lơ một
bi kịch ngàn năm của dân tộc “như thể Hai Bà Trưng/Nhảy từ đê tuẫn tiết/Đến nay
còn chưa rơi xuống lòng sông”!
Trần Mạnh Hảo cũng chẳng là gì cả khi thơ ông không vuốt
đuôi quyền lực để được quyền lực nâng đỡ, cho tiền hỗ trợ sáng tác hay trao
giải thưởng cao quý cho ông. Đám quyền lực quen nịnh hót không thể không sôi
ruột lên khi nghe cái câu Trần Mạnh Hảo dành cho thi tiên Lý Bạch: “Thơ hay có
thể bị vua bắt/Trăng nhé nghìn đêm bạc tiếng gà”. Kẻ độc tài khát máu không thể
không muốn ăn tươi nuốt sống ông khi ông hát khúc Ly tao mới: “Ta thương triều
đình trong tay nghịch đảng/ Thuyền độc mộc quốc gia bơi một mái chèo/ mái chèo
mang hình lưỡi kẻ nịnh hót/Chó kiêu ngạo nhảy chồm lên bàn độc/ Muốn yên thân
phải sống thật đói nghèo”. Chắc chắn, cả quyền lực lẫn quân nịnh hót đều hoảng
hốt muốn treo đầu ông nhiều lần để thị uy khi ông muốn làm một Cao Bá Quát:
“Đến ngôi thiên tử còn rơm rác/Đầu rớt mà thơ vẫn tự trào”. Và khi quyền lực
chỉ biết giả nhân giả nghĩa, chúng không thể không nghẹn họng khi phải nuốt cái
câu thơ thác vào khúc Ly tao hơn ngàn năm trước của Khuất Nguyên: “Cái xứ sở
toàn đeo mặt nạ/ Con cáo ngồi thương đứt ruột con gà”. Càng không thể nuốt trôi
một câu cảm thán, dù chỉ nói về thời đại Nguyễn Trãi: “Ôi xã tắc/ Con đường nào
cũng dẫn đến pháp trường/ Bàn tay chỉ đường nào cũng bàn tay đao phủ”...
“Đền thơ” với những trang thơ, trang phê bình, trang sách
giáo khoa do bọn ma quỷ tự phong thần không thể dung nạp Trần Mạnh Hảo. Họ muốn
bôi xóa tên tuổi ông bằng mọi cách, nhưng kết cục, họ tự phơi xác trước trận
sóng cuồng mang tên Trần Mạnh Hảo.
Trần Mạnh Hảo không là gì cả đối với giới quyền lực tham
lam, không là gì cả đối với trí thức, văn nghệ sỹ cơ hội lưu manh. Nhưng ông là
tất cả đối với đất nước, đối với nhân dân, đối với những người sống và đau cùng
với nỗi đau của đất nước và nhân dân mình. Sức mạnh của Trần Mạnh Hảo trào dâng
lên từ trái tim cháy bỏng, mạnh đến mức bọn quyền lực tham lam khiếp sợ, bọn
trí thức, văn nghệ sĩ cơ hội, lưu manh lẩn trốn. Nói gọn là quân tiểu nhân vô
lại không có đất sống trong thơ Trần Mạnh Hảo. Chúng lấm lét đọc bài này và sẽ
chê: đại ngôn!
Nhưng tôi tin, những ai biết đào sâu vào tận gốc rễ cảm xúc
và tư tưởng Trần Mạnh Hảo, hứng từng con sóng ngôn từ của ông vào trái tim và
biến nó thành sức mạnh của mình thì mới thấy hết chiều kích Trần Mạnh Hảo.
Không đóng khung trong mảnh đất Hà Nam Ninh từng sinh ra Tú
Xương, Nam Cao, Nguyễn Bính…, chinh bà mẹ non sông đất nước này sinh ra Trần
Mạnh Hảo trong quằn quại khổ đau. Trần Mạnh Hảo là đứa con sinh ra từ tâm bão
của Đất nước hình tia chớp: “Có phải mẹ Âu Cơ đã đi vòng trái đất/Để làm chỗ
khai sinh con Lạc cháu Hồng/Mẹ đã tìm ra dải đất hình tia chớp/Chọn vùng tâm
bão để sinh con…”. Chúa không nặn nên hình hài ông từ vườn Địa Đàng mà chính
con sông Hồng quặn máu tươi nắn nên hình hài ông: “Khi con vừa rời lòng mẹ/ Con
đỏ hoe như một cục bùn non/ Có phải mẹ nhặt con lên từ đáy sông Hồng/ Mà hạt
phù sa bật khóc”. Là con sông Lam “vắt kiệt lòng mình nuôi đất cát” để nuôi ông
đồ xứ Nghệ, cũng là nuôi tính cách và tài năng của ông: “Con cò mặc áo tơi đi học/Cá
sông Lam còi cọc đổ mồ hôi/Gió hào kiệt thổi xơ Nghệ Tĩnh/ Cá gỗ nuôi lớn những
thiên tài/Trời hào phóng mây trắng/ Đất tằn tiện ngô khoai/Đến cỏ dại cũng mọc
thành chữ nghĩa/ Đồ Nghệ sông Lam dạy biển cả học bài”. Là con sông Mã đưa hồn
ông theo vó ngựa tiền nhân đi mở nước: “Sông Mã/ Chảy như chạy trốn núi
rừng/Sông mải miết một đời Thanh Hóa/Để Nguyễn Hoàng đi mở đất phương Nam”. Là
con sông Cửu Long neo hồn ông vào cánh cung để từ đó phóng ra những mũi lao vào
giặc ngoại xâm lẫn nội xâm: “Cái dải đất sông hoá rồng chín khúc/Hai đầu xoè
những mũi đất - mũi lao/Núi mang dáng ngựa phi voi phục/Báo ngủ rừng sâu đợi
giặc vào”… Trần Mạnh Hảo được sinh ra và nuôi lớn từ những dòng sông để hồn ông
hóa thành hồn sông núi. Ông hóa thành biển cả để hơn 70 năm cuộc đời vẫn còn
“ừng ực uống dòng sông” và dâng lên thành sóng cuồng thơ.
Trần Mạnh Hảo mang chiều kích của tất cả các đại thi hào xưa
nay dồn lại. Ông làm một Tư Mã Thiên đêm cung hình “Ghen tị mãi với chim và
chuột/Sao chúng mày không phải thờ vua?” Ông làm một Nguyễn Trãi trước giờ tru
di: “Đội ơn vua ban cho tã lót/ Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt/ Ôi
con đường ba họ ta đến nơi thọ hình/ Sao dài hơn đường mười năm Lam Sơn phò
Thái Tổ”. Ông làm một Nguyễn Du để nghe “Sóng Nam Đài trằn trọc cát Thanh
Hiên/Ngàn Hống thở hồng trần bay lục bát/Thúy Kiều ơi bầm nát gió Tiên Điền”.
Ông làm một Lý Bạch “trả thanh bình điệu cho Đường Minh Hoàng/ Gió cũng bị đày
đi Dạ Lang" và thách thức: "Cổ ta vừa với gông vua lắm/ Đố vua gông
nổi mùa thu vàng”. Ông làm một Bạch Cư Dị “vỗ nát tì bà máu chảy/Cưới tiếng đàn
làm vợ góa hồn ma”. Và ông hóa thành Đỗ Phủ để “nghe hàng triệu lá phổi đang
hắt ra cơn gió cuối cùng/ Gom thành bão trên đất này than khóc”… Ông là đại
dương hội tụ tất cả mọi dòng sông thơ, ở đó kết tinh máu, nước mắt của mọi cuộc
đời, mọi thời đại và biến thành trùng trùng điệp con sóng vừa vỗ về yêu thương
vừa uất nghẹn căm hờn.
Trần Mạnh Hảo hoàn toàn tự do dù phải sống trong cái nơm
trời chật hẹp. Ông cầm chiếc đinh ba vùng vẫy đến làm lung lay, xô dạt cả đền
thiêng quyền lực Olimpus. Với Trần Mạnh Hảo, không có đền nào là thiêng, dù đó
là nơi thống trị của quyền lực hay của nhà thơ, nhà phê bình tự phong là thánh.
Ông đủ tầm vóc để nhạo báng tất cả. Người ta bảo ông mục hạ vô nhân, nhưng tôi
thấy điều ấy chỉ dành cho những kẻ không là "nhân". Ông trân trọng
nâng niu cái đẹp dù cỏn con nhất của nhân tình: “Cỏn con một sợi lông mày/ Mà
đem cột trái đất này vào anh”. Đẹp với ông là bi kịch, bi kịch của phận người.
Bi kịch của Thúy Kiều: “Liều mình lao xuống yêu thương/Ai hay dưới đáy đoạn
trường vầng trăng”. Bi kịch của Huyền Trân: “Mắt ta đêm nay khác nào hai giếng
nước/ Nước Việt ơi/Nước Việt mãi hai hàng”, "Gió kinh thành có về Tức
Mặc/Bẻ giùm ta ít hương cau/Nhặt giùm ta vài tiếng ếch/Ta nghe khi tới xứ
người...". Bi kịch của Nguyễn Bính: “Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần”.
Bi kịch của Nguyên Hồng: “Thương anh sống đời vô sản/ Chết xuống vẫn làm ma vô
sản." Bi kịch của "những người Việt Nam vượt biên chết chìm trên
biển", "chết rồi còn giơ tay cầu cứu/chết rồi còn quờ tay tìm lối
thoát", "biển không nhận/ bờ không nhận/những trang sách không
nhận/không ai nhận những con người"... Và bi kịch của chính ông: “Ta đã
chết ở hai đầu trận tuyến/Bảy mươi ơi số phận biến đâu rồi?/Từ trong mộng hồi
quang xin tận hiến/Bắt đền em ngấu nghiến tuổi hai mươi”, "Ôi đất nước/Anh
đã yêu đến băng hoại cả đời". Mục hạ vô nhân thế nào mà viết được câu thơ
sáng cả đất trời Tây Bắc và sáng cả lòng dân đất Việt: "Trái tim đập không
một ai nhìn thấy/Ở ven trời Tây Bắc có Lai Châu/ Hoa ban nở thành người con gái
Thái/ Đám mây bay trong thau nước gội đầu"? Trong hơn 500 bài thơ dài ngắn
khác nhau, những câu thơ đẹp nao lòng như vậy nhiều vô kể. Không cần “phi vần
điệu”, “tân hình thức” để gọi là cách tân thơ, thơ ông cứ tuôn trào tự nhiên,
lớp sóng này xô lấy lớp sóng kia và trào lên thành sóng dữ. Ông không quy phục
vần điệu mà bắt vần điệu phải quy phục ông. Cho nên ông mới mỉa mai thứ “tân
hình thức” thành “tân con cóc”, thực chất là mỉa mai cuộc chạy trốn tự do của
những nhà thơ hèn nhát. Não ông chứa đầy hình ảnh với những tưởng tượng, liên
tưởng siêu phàm. Từ dòng sông, ngọn núi cho đến con mối, con mọt; từ áng mây,
ngọn gió đến một bát canh cua, con hà con hến; từ ánh mặt trời rực rỡ hay ánh
trăng lung linh đến hạt sương, con kiến hay sợi lông mày…, cái gì vào thơ ông
đều được tâm hồn ông nhào nặn, biến hóa và nâng lên với chiều kích vừa cao vời
vợi vừa sâu thăm thẳm. Hơn 500 bài thơ, không có bài nào xếp vào hàng thơ dở,
điều này có lẽ xưa nay hiếm! Đã từng đọc thơ Trần Mạnh Hảo thì những thứ thơ
lâu nay được cho là hay bỗng trở nên nhạt thếch!
Viết về Trần Mạnh Hảo phải tốn hàng ngàn trang cũng không
đủ. Có lần tôi muốn học viên cao học làm một luận văn về ông, nhưng nghĩ không
đủ tầm. Vả lại, không chừng làm hại học viên khi khó có một hội đồng yêu Trần
Mạnh Hảo.
Tầm vóc Trần Mạnh Hảo là vậy nhưng không được tuyển hay giới
thiệu vào sách giáo khoa phổ thông hay giáo trình đại học. Đơn giản vì các
“thánh” sợ hãi ông. Họ sợ con sóng thơ ông mà dội vào hồn tuổi trẻ, nó sẽ mạnh
lên thành sóng cuồng làm phơi xác các “thánh”. Nhưng vậy là may cho ông. Nếu
thơ ông vào sách giáo khoa hay đề thi với những câu hỏi đọc hiểu lạnh lùng theo
cách tra vấn phạm nhân: “Bài thơ thuộc thể thơ gì? Đoạn thơ sau nói gì? Chỉ ra
các biện pháp tu từ”…, chẳng khác gì giết hại thơ ông. Dẫu sao tôi và các bạn
yêu thơ phải biết ơn Nguyễn Quang Thiều và Ban biên tập của Nhà xuất bản Hội
Nhà văn. Họ đã vượt qua sự sợ hãi để in tuyển tập Trần Mạnh Hảo, một tuyển tập
có thể làm cho quỷ thần cũng kinh hãi!
Chu Mộng Long
