Về Nơi Phố Thị… Lê Đình Cai
ký sự
Sau khi kết thúc trận đệ nhị thế chiến (tháng 8-1945) Pháp lại theo chân quân đội Anh để trở lại Đông Dương .Vào những năm 1946,47, ở miền quê tôi, người dân phải sống trong cảnh “một cổ hai tròng”. Ngày thì chịu sự kiểm soát của chính quyền thuộc Pháp, đêm thì phải đi đào hầm đặt chông đặt mìn , hay tham gia những cuộc mít tinh đấu tố theo lệnh của chính quyền Việt Minh.
Lúc nào cũng lo sợ không bên này thì cũng bên kia bắt giữ,
giam cầm hay sát hại...Sau lần xuýt bị Việt Minh xử tử ở làng Linh Yên vì bị
nghi là làm gián điệp cho Tây, mẹ tôi không còn lòng dạ nào nghĩ đến chuyện
buôn bán ở các làng lân cận để kiếm tiền nuôi con nữa. Ba Má tôi đã bàn định
với nhau nhiều ngày, cuối cùng quyết định đem gia đình trốn lên Tỉnh nơi chính
quyền quốc gia đang kiểm soát để mưu cầu một cuộc sống mới an ninh hơn. Đây là
một quyết định không đơn giản tí nào. Ruộng vườn, nhà cửa, mồ mã ông cha, bà
con hàng xóm... Đã gần nửa đời người cưu mang ấp ủ bỗng chốc phải lìa xa. Còn
gì đau đớn cho bằng. Ba má tôi lúc đó chưa đầy 30 tuổi. Ba tôi tuổi Mậu Ngọ (30
tuổi), mẹ tôi tuổi Kỷ Mùi (29 tuổi). Ba tôi chỉ đậu bằng tiểu học thời đó, còn
mẹ tôi chỉ biết chữ mà thôi làm sao sinh sống được ở chốn phồn hoa đô hội.
Nhưng đã quyết ra đi để tìm sinh lộ cho các con thì phải dứt khoát.
Gia đình tôi ra đi vào
một đêm tối trời mùa đông rét mướt của năm 1947, lúc tôi lên 5 tuổi và anh trai
tôi lên 7, mẹ tôi đang ẳm trên tay thằng em tôi chưa đầy 6 tháng. Gia đình tôi
cả thảy 5 nhân khẩu đang liều lỉnh cho một chuyến đi thay đổi cả cuộc đời.
Chúng tôi phải trốn đi chứ không phải tự do di chuyển công khai vì nhiều con
mắt thường xuyên theo dõi của dân quân tự vệ theo Việt Minh ở trong làng. Nếu
biết được ý đồ trốn đi của gia đình, ba má tôi chắc chắn là phải khốn đốn với
“Ban Hội Tề” ngày đó.
Ra đi trong đêm tối, mỗi
người chỉ đeo theo người một bị lát đựng quần áo gọn nhẹ, có vẻ như đi thăm bà con, nếu có bắt gặp dọc đường
cũng dễ giải thích. Tôi không biết là đi được bao lâu thì ba má tôi ghé lại căn
nhà dì tôi ở làng Bích La khi trời chưa hừng sáng. Dì dượng tôi mừng rỡ đón gia
đình tôi vào nhà. Trời bên ngoài rất lạnh, anh tôi và tôi được mẹ cho ăn mặc
nhiều lớp áo và có cả cái tơi chằm bằng lá “ghé”, cứ gió chiều nào là
xoay về chiều đó nên cũng đỡ rét, vã lại đi bộ cả một quảng đường dài nên anh
em tôi không thấy lạnh lắm.
Gia đình tôi ở lại làng
Bích La với dì dượng tôi ngày hôm đó cho đến xế chiều. Sau khi ăn cơm xong là
gia đình sửa soạn di chuyển lên tỉnh. Đoạn đường từ Bích La lên tỉnh đi bộ chưa
đầy nửa tiếng đồng hồ nhưng gia đình đã đi cả tiếng mới tới nơi vì anh tôi và
tôi còn nhỏ nên đi chậm. Điều may là đoạn đường này tương đối an toàn vì gần
thị xã nên ít có sự hoạt động của Việt Minh.
(Dì tôi là chị ruột của
mẹ, lấy chồng ở làng Bích La. Vài năm sau khi dì tôi qua đời vì bệnh, mẹ tôi đã
đem chị Bé con của dì lên tỉnh nuôi và anh em tôi coi chị như là người chị cả của
mình).
Gia đình bắt đầu đặt
chân lên thị xã Quảng Trị khi trời sẩm tối. Lần đầu tiên thấy ánh đèn chúc
ngược ở từng cột điện, tỏa ánh sáng vàng vọt lên từng mảng đường rải nhựa, rồi
những ngôi nhà cao tầng với ánh đèn sáng loáng, thỉnh thoảng một vài chiếc xe
hơi chạy qua bóp còi tinh tinh, rồi những chiếc GMC chở đầy lính tráng...Tôi
cảm thấy mình như bước qua một thế giới khác náo nhiệt, ồn ào và lạ lùng, khác
với vùng quê yên ắng, tĩnh lặng mà tôi đã sinh ra và lớn lên từ bấy đến giờ...
Chúng tôi tá túc tại nhà
của một gia đình mà tôi gọi là bác họ (bác Trương Sĩ Triền) ở con đường chính
đi thẳng lên nhà ga xe lửa. Ở đó bác Triền đã cho ba má tôi che tạm một chái
nhà dựa vào vách tường đủ để cả gia đình có nơi cư trú. Bác Triền mà ba gọi
bằng anh cùng tuổi với ba tôi đã hết lòng giúp đỡ tìm việc làm cho ba tôi (Bác
Triền về sau tự học đổ cử nhân Pháp văn và làm việc trong ngành thông tin. Hiện
bác đang định cư ở Seattle theo diện HO và tôi đã có dịp gặp lại bác vào dịp đệ
tứ chu niên báo Chính Luận được tổ chức ở trên đó).
Còn má tôi ra chợ tìm
cách mua bán để kiếm đồng ra, đồng vào, gia đình tôi bước đầu như thế là tạm
ổn. Chúng tôi không còn lo lắng về sự mất an ninh như những ngày còn ở vùng quê
nữa. Và ở đây tại vùng phố thị này, anh em tôi được ba má xin cho nhập học
trường nam tiểu học Quảng Trị vào niên học 1948-1949.
Những ngày đầu ở phố
thị, cái gì đối với tôi cũng lạ lẫm, con đường rãi “dầu hắc” thì rộng và dài
hun hút từ nhà ga cho đến trại lính nằm gần cửa hữu của cổ thành Quảng Trị, hai
bên phố xá buôn bán tấp nập mà sau này mang tên là Trần Hưng Đạo. Chợ Quảng Trị
nằm cạnh bờ sông với nhiều dãy quán xá chung quanh bao lấy tòa nhà trung tâm to
lớn của chợ nơi chủ yếu bán sỉ các loại hàng vải sợi và đồ dùng bằng gốm và
bằng nhựa...
Con đường Gia Long dọc
bờ sông trước tòa thị chính chạy dài xuống chùa Tỉnh Hội và nối với con đường
đất dẫn về chợ Sải thật là thơ mộng và cứ độ hè về, hoa phượng nở đỏ cùng tiếng
ve sầu áo nảo nhắc nhỡ cho chúng tôi mùa chia tay với những tập lưu bút của
tuổi hoa niên. Con đường Lý Thái Tổ, đường Quang Trung dẫn về sân vận động và
trường trung học Nguyễn Hoàng quả thật sau này đã ôm chặt biết bao kỷ niệm của
tuổi ấu thơ. Phố thị Quảng Trị không rộng lắm nhưng thật là ấm cúng và nhiều
tình người. Tôi sẽ còn nhắc đến thành phố thân yêu này của tôi trên nhiều chặng
đường đời mà tôi đã trải qua từ thời thơ ấu cho đến ngày giã biệt để lên đường
vào kinh đô Huế xây mộng ước của tuổi thanh xuân “không công danh thà nát với
cỏ cây”( theo quan niệm của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ mà các thầy cô
dạy Việt văn đã truyền thụ cho chúng tôi khi theo học 6 năm dài ở trường trung
học Nguyễn Hoàng).
Tôi bắt đầu vào học lớp
năm của trường nam Quảng Trị vào mùa Thu năm 1948. Hồi đó chưa có trường ốc như
khi theo học lớp nhì và lớp nhất sau này (xin nhắc lại lớp năm tức là lớp 1 và
lớp nhất tương đương với lớp 5 bây giờ). Chúng tôi được học ở đình làng Thạch
Hãn, cạnh vườn bông, gần bờ sông. Ngôi đình khá rộng, mỗi lớp chiếm một góc
đình. Lớp học thường ồn như nơi chợ búa vì cả bốn lớp đều ê a đọc vần ở trong
cùng một ngôi đình mà không có tường vách ngăn cách.
Tôi nhớ hồi đó tôi học lớp năm và lên lớp tư với cô Hồ, vợ của thầy Lương Thanh
Phiệt. Cô Hồ có người con tên là Lương Thanh Khiết cùng học với tôi. (Sau này
Khiết tốt nghiệp bác sĩ, sau tháng tư đen 1975, Khiết đi cải tạo như tôi và
hiện nay đang hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn). Tôi nhớ cô Hồ người nhỏ nhắn, tánh
tình điềm đạm, rất thương yêu học trò. Cô là cô giáo đầu tiên cầm tay tôi để
nguệch ngoạc những mẫu tự a,b,c...đầu tiên của một thằng bé vừa từ vùng quê ra
phố thị với tất cả những bở ngỡ đầu đời.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm
khó quên của những ngày thơ dại ấy. Hôm đó trên đường đi học về, tôi nghe tiếng
còi xe hụ từ xa, tôi quay nhìn lại thì một chiếc xe bọc thép (khác với xe bọc
thép chạy bằng xích sắt sau này), bằng bánh cao su đang xộc đến phía tôi. Tôi
hốt hoảng nhảy xuống con mương đã đào sẵn để lót các ống cống dẫn nước và lọt
tõm vào lòng tròn của một vòng cống để núp. Xe đi qua rồi mà tôi chưa kịp hoàn
hồn. Một vài thằng bạn đồng lớp đi cùng đã phá lên cười nứt nẻ và xuống ống
cống lôi tôi lên...Mấy đứa bạn tôi thì đã quen, còn tôi vừa mới lên phố thị lần
đầu mà, cứ tưởng chiếc xe ấy sẽ đâm bổ vào mình nếu không tránh kịp.
Lên lớp ba tôi học với thầy Xáng và thầy Hành. Lớp nhì tôi học với thầy Bùi
Thúc Nghinh và lớp nhất để lấy bằng tiểu học thì do cô Đinh Thị Kim Trâm phụ
trách. Khi học với thầy Nghinh và cô Trâm thì trường nam tiểu học đã chính thức
dời về trụ sở trước cửa hữu cổ thành Quảng Trị, gần nhà thầy Tôn Thất Dương
Thanh (bấy giờ là Trưởng Ty Tiểu học vụ của Tỉnh). Thầy Thanh có cô con gái dễ
thương cùng học một lớp với tôi là Tôn Nữ Quỳnh Tư (hiện định cư tại Pháp).
Cô Đinh Thị Kim Trâm và
thầy Bùi Thúc Nghinh đều là những nhà giáo tốt nghiệp trường Giáo sinh Sư phạm
Huế. Tôi nhớ nhiều đến thầy Nghinh vì ngoài giờ học ở trường, tôi còn sinh hoạt
trong gia đình Phật Tử Quảng Thiện mà thầy là một trong các huynh trưởng của
chúng tôi. Cô Kim Trâm, chúng tôi nhớ rất nhiều vì hồi đó chúng tôi là lớp học trò
đầu tiên khi cô chính thức trở thành cô giáo. Cô Trâm hồi đó rất xinh đẹp và
học trò rất thương yêu cô. Cứ mỗi lần tan học vào buổi chiều, các bạn trong lớp
tự động đi theo bảo vệ cho đến khi cô về đến nhà trọ vì sợ cô bị lính tráng Lê
dương (lính Pháp) chọc ghẹo giữa đường. Trong lớp học của cô, tôi và anh Nguyễn
Văn Phước (sau này là Thiếu tá trong QLVNCH, hiện ở tại thành phố Seattle ở
bang Washington) thường cứ thay nhau đứng đầu lớp vì thế cô nhớ đến chúng tôi
rất nhiều. Hiện cô đang ở với phu quân là kỷ sư Tôn Thất Ngọ tại vùng San
Francisco. Tôi có dịp gặp lại cô lần đầu sau gần nửa thế kỷ trong dịp họp mặt
Đồng hương Thừa Thiên, Huế nhân dịp Xuân Bính Tuất (tháng 2/06) vừa qua. Thật
là cảm động biết bao khi gặp lại cô giáo đã dạy dỗ mình suốt năm lớp nhất, một
tuần 5 ngày mỗi ngày 6 tiếng trong suốt 9 tháng trường của niên học 1953-1954.
Nhiều học trò cũ của cô như nhà văn Nguyễn Chí Kham (ở Nam Cali), như Phước ở
Seattle, hay ở xa như Nguyễn Ngọc Đá (bây giờ đổi lại là Nguyễn Ngọc Túc) tận
bên Uc Châu xa xôi cũng thường gọi điện thoại về thăm hỏi sức khỏe của cô. Tình
thầy trò của những năm tháng ấy sao mà thắm thiết vậy!
Năm 1954 mùa hè năm đó
chúng tôi đã đỗ rất cao trong kỳ thi văn bằng tiểu học (hết cấp 1 nói theo hệ
thống giáo dục hiện nay) khiến cô giáo Kim Trâm vô cùng hãnh diện. Tiếp đó,
chúng tôi tham dự kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất trường Trung học Nguyễn Hoàng
niên học 1954- 55 cùng với rất nhiều sĩ tử các quận huyện và các trường tư thục
trong tỉnh.
Năm 1954 cũng là năm ký hiệp định Genève (20-7-54) chia đôi đất nước Việt Nam
với con sông Bến Hải làm ranh giới. Dạo đó, dù còn nhỏ nhưng chúng
tôi đã cảm thấy có cái gì mất mát lớn lao trong thực trạng chia cắt của quê
hương. Dòng người di cư đổ vào thành phố nhỏ bé Quảng Trị ngày càng đông và
phải chia nhau ở các trại tạm trú tại sân vận động. Rất nhiều con em của các
gia đình di cư này cũng dự thi vào lớp đệ thất Trung học Nguyễn Hoàng năm đó và
anh Nguyễn Văn Thưởng (nhà thơ Chu Vương Miện) là bạn cùng học với tôi ở trong
số này. Sau khi thi xong chúng tôi chờ đợi giờ đọc tên “bảng vàng” mà lòng như
lửa đốt và rồi kết quả như chúng tôi kỳ vọng, anh em chúng tôi đều trúng tuyển
với thứ hạng cao nhất toàn tỉnh.
Niềm sung sướng và tự
hào tràn dâng trong con tim , chúng tôi nhìn về một tương lai rạng rỡ trên cuộc
hành trình chiếm lĩnh tri thức mà bảy năm trung học trước mặt là mốc giới phải
đạt tới. Và một mùa hè sung sướng của tuổi thơ đi qua với biết bao kỷ niệm
tuyệt vời. Rồi mùa thu đến, mùa tựu trường của biết bao con tim đang rạo rực mong
chờ.
“Hằng năm cứ vào cuối
thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng
tôi lại nao nức với những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường ...”. Cảm ơn
nhà văn Thanh Tịnh đã diễn tả lại cảm tưởng ngày tựu trường quá tuyệt vời đến
nỗi thế hệ chúng tôi không ai mà không thuộc hết đoạn văn đầy xúc động này
trong những tháng ngày của tuổi hoa niên...Thế là tôi đã bước vào một ngôi
trường lớn hơn, trường Trung học Nguyễn Hoàng, tên của vị chúa khai sáng
vương triều đầu tiên của dòng họ Nguyễn trên đường Nam tiến...
Lê Đình Cai
(Viết để ghi nhớ những
chặng đường đời...)
nguồn: Trong tập Hồi Ky "Chuyện Kể Của Người Tù Mang Số BĐ.490"