Tuesday, October 25, 2022

Sự kiện lịch sử - Hoàng Long Hải


Nhân vật Lịch sử 
(tiếp theo, bài số 6 và 7)

Các nhân vật lịch sử bị Cộng Sản Việt Nam bắt, bỏ tù, giết, thủ tiêu, truy đuổi... từ trước "Cách Mạng Tháng 8/ 1945" đến bây giờ : 

6- Tạ Thu Thâu
7- Hồ Văn Ngà




1- Lâm Đức Thụ
2- Khái Hưng
3-Trương Tử Anh
4-Nguyễn Hải Thần
5- Lý Đông A 
6- Tạ Thu Thâu
7- Hồ Văn Ngà


6./ TẠ THU THÂU


            Tạ Thu Thâu là một nhân vật đặc biệt.

         

            Về việc học, ông là người học giỏi xuất chúng, một trí thức kiệt xuất, có tài hùng biện và lãnh đạo, thuộc nhóm Đệ Tứ Quốc Tế ở miền Nam.

 

            Nói tới việc nầy, có lẽ nên nhắc lại một chút về "lịch sử Nam Bộ" khi Tây bắt đầu xâm lăng nước ta.

            Sau khi Rigault Genouilly đánh chiếm Saigon, Tây cần thông ngôn để tiện việc cai trị dân chúng. Ban đầu, Tây phải dùng những người biết tiếng Tây ít nhiều.

 

            Trong cuốn "Saigon Năm Xưa", ông Vương Hồng Sển thuật lại một câu nói tiếng Tây của Tổng Đốc Phương - Đỗ Hữu Phương - nói với một quan chức Tây, thống sứ hay cái chức gì đó, như thế nầy - tôi chép lại đúng "tiếng Tây bồi" như trong sách Vương Hồng Sển: "Lủy bớp, ya na bớp; lủy siêng, ya na siêng, lủy măng-giê toa, lủy măng-giê moa."  Vương Hồng Sển dịch luôn: "Nó là con bò, mà không phải bò; nó là con chó mà không phải chó, nó ăn thịt tui, nó ăn thịt ông." Vương Hồng Sển kể câu chuyện tổng đốc Phương đi săn gặp cọp, nhưng không rõ tiếng Tây tiếng gì là con cọp, nên diễn giải như thế. Hay không?

 

            Huyện Sỹ, tên là Lê Phát Đạt, ông ngoại bà Nam Phương Hoàng Hậu, - vợ Bảo Đại, - thuở nhỏ nhà nghèo, làm nghề chăn vịt, rồi làm bồi cho một ông linh mục Tây. Ông cha Tây thương tình, cho ông đi học bên Pénang, Mã Lai, một trường Dòng đạo Thiên Chúa. Tây chiếm Nam Bộ, dùng ông làm thông ngôn. Bấy giờ dân chúng bỏ chạy cả, vừa sợ Tây, vừa sợ mang tội với Triều đình. Tây muốn gọi dân hồi cư, ổn định đời sống, nhưng người dân không dám về, cứ nghĩ rằng ít lâu Tây rút đi thì trở về lại nhà cũ cũng không muộn.

 

            Vậy rồi Tây cho phát mãi ruộng bị bỏ hoang. Huyện Sỹ mua ruộng nầy, nhờ vậy mà giàu có ức triệu. Ngay tại khu vực Saigon/ Gia Định, đất của Huyện Sĩ phải kể từ Chợ Đũi/ Saigon lên tới Hạnh Thông Tây. 

            Vì thiếu thông ngôn, Tây nhờ Nhà Dòng mở trường đào tạo giùm. Học sinh phải là người "có đạo". Về sau, Tây tự đào tạo lấy, không phân biệt ai có đạo ai không. Ai giỏi còn được Tây đi du học. Đó là trường hợp ông Diệp Văn Cương, đậu tú tài ở Algerie, làm thông ngôn cho khâm sứ Pháp ở Huế. Ông làm phò mã, chồng công chúa Thiện Niệm, em vua Dục Đức. Chính vì "duyên nợ" nầy mà Diệp Văn Cương "cố ý dịch sai", để Bửu Lân được Tây chọn cho lên làm vua. Bửu Lân tức là vua Thành Thái.

            Vì đất Nam Bộ là "Nam Kỳ thuộc địa", nên Tây cần đào tạo người làm việc cho Tây. Nhiều người học giỏi được Tây cho du học bên Tây là vì vậy. Số nầy khá đông, nhiều người nổi tiếng như Bùi Quang Chiêu, Hồ Hữu Tường, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, v.v...

            Hồi ấy ở Paris có "ba ông già", đang ở bên đó trước. Những người qua Pháp lúc ấy đều được họ giúp đỡ: Truyền bá tư tưởng cách mạng, dạy cho học tiếng Tây. Đó là Cụ Phan Chu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, kỹ sư Nguyễn Thế Truyền - (1) - Học trò các cụ là du học sinh. Những người gốc Nam Bộ thì tiếng Tây đã giỏi. Riêng Nguyễn Tất Thành thì hoàn toàn "i-tờ-rít", chỉ nói được tiếng Tây bồi mà thôi.

            Một điều buồn cười là mấy ông học giỏi ở Nam Bộ nầy, Tây cho qua Tây "du học". Qua bên đó, mấy ông làm mấy việc như vầy:

            Một là "biểu tình chống Tây", khiến Tây phải "đuổi về nước", như Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường và hàng chục người khác, có dịp, xin kể sau.

            Phần đông họ theo Cộng Sản, nhưng lại là "Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế", thường nói gọn là "phần tử Trotsky".  Thứ nầy thì Stalin ghét lắm. Trotsky đã chạy trốn sang Nam Mỹ, nhưng Stalin cho người theo giết cho được.

            Năm tôi học lớp Đệ Nhứt, bây giờ là lớp 12, thầy dạy môn Sử Địa của tôi là giáo sư Lê Hữu Mục. Khi nói về "Cách Mạng Tháng Mười Nga" ông có bảo rằng "Stalin rất thù Trotsky, cố tâm giết cho được." Sau đó, ở tòa soạn báo Rạng Đông, hỏi giáo sư về chuyện nầy, giữa Stalin và Trotsky có mâu thuẫn nhau về "tư tưởng cách mạng" gì không, ông Lê Hữu Mục bảo: "Tư tưởng gì? Một rừng không có hai con cọp; cũng giống như Phidel với Ché Guévara vậy thôi. Khi gian khổ là "đồng chí", thắng lợi rồi, tranh nhau cái ghế, trở thành kẻ thù. Trotsky phải trốn chạy; Ché phải bỏ đi Nam Mỹ, cũng chưa yên thân."

            Tôi hỏi: "Đệ Tam và Đệ Tứ ở Việt Nam" khác nhau cái gì?

            Giáo sư Lê Hữu Mục trả lời: "Khác cái gì đâu! Những người Miền Nam du học bên Tây phần nhiều theo Đệ Tứ là vì ở Pháp hồi đó, phong trào Đệ Tứ mạnh hơn Đệ Tam. Còn ở nước ta, Đệ Tam cố diệt cho hết Đệ Tứ là vì theo lệnh Stalin. Vì thù ghét Trotsky, Stalin ra lệnh "triệt tiêu" hết Đệ Tứ. Hồ Chí Minh chỉ biết tuân lệnh."

            Tôi nói: "Nếu tranh luận về tư tưởng, chủ nghĩa... thì Stalin làm sao thắng Trotsky. Ở nước ta, Hồ Chí Minh, và cả Trường Chinh, Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai không ai đủ sức "đấu" với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường. Giết đi là "thượng sách". Vì người ngoài mà người Việt Nam trong nước giết nhau. Thật là bất nhân."

            Tạ Thu Thâu quê ở quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, gia đình đông anh em và nghèo. Thân phụ ông làm nghề mộc nhưng lại giỏi chữ nho nên kiêm thêm nghề bốc thuốc Bắc cho dân chúng quanh vùng. Tạ Thu Thâu mồ côi mẹ năm 11 tuổi. Vậy mà ông vẫn được cha cho đi học. Ông đậu bằng Primaire, lại đậu vô trường Chasseloup Laubat. Sau khi đậu tú tài, ông dạy học, lại tham gia "đảng" An-nam trẻ - Jeune Annam - Năm 1926, sau phong trào "tám tang cụ Phan", ông tham gia nhiều cuộc biểu tình ở Saigon, đòi dân chủ, tự do cho Annam.

            Năm 1927, mới 21 tuổi, ông vào học Đại Học Paris, đồng thời ông tham gia Annam Độc Lập ₫ảng của Nguyễn Thế Truyền. Khi ông Nguyễn Thế Truyền về nước, Tạ Thu Thâu trở thành lãnh tụ của đảng nầy. Huỳnh Văn Phương cùng với ông chủ trương tờ báo tiếng Pháp La

Résurrection - Phục Hưng - chống thực dân Pháp. Được ít lâu, báo bị đình bản.

            Ha sau, ông tham gia "Hội Nghị Phản Đế" ở Đức, tiếp xúc với những người thuộc "Tả phái", chống Thực Dân cũng các nhà văn, sử gia. Alfred Rosmer, đồng chí của Trotsyky, đưa Tạ Thu Thâu đến với nhóm Trotskyism Pháp. Ông trở thành lãnh tụ Việt Nam đầu tiên của những người theo Đệ Tứ.

            Tháng năm năm 1930, trước khi Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng lên "đoạn đầuđài" ở Yên Bái, Tạ Thu Thâu cùng Việt kiều ở Pháp biểu tình phản đối trước điện Elysée. Vì vậy, ông bị bắt cùng 18 thành viên thuộc "Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương" - Association Générale des Etidiants Indochinois - trong đó có Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo. Tất cả bị Tây trục xuất về nước.

            Về nước, ông nổi lên thành một lãnh tụ tài giỏi, tổ chức và lãnh đạo Phong Trào Trotskít Miền Nam, hoạt động chống Pháp bằng báo chí, - Báo "Vô Sản", báo "La Lutte" - Tranh Đấu, bằng tiếng Pháp -  cùng với Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Dương Bạch Mai. Ông bị hai năm tù treo vì những hoạt động nầy.

            Để thuận lợi trong công việc đấu tranh, ông cùng các đồng chí ứng cử vào Hội Đồng Thành Phố, và đắc cử. Do đó, để dằn mặt nhóm chống Pháp, ông bị chúng bỏ tù hai năm.

            Cuối năm 1944, ông được ra khỏi "tù Côn Đảo". Ông liên lạc với các đồng chí làm tờ báo "Chiến Đấu" của đảng Xã Hội Thợ Thuyền do ông thành lập, dự trù phát triển đảng ra phía Bắc. Ông cũng ra Bắc tham gia các cuộc biểu tình cùng các thợ thuyền, thợ mỏ ở Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương.

            Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông trở về Nam, bị Việt Minh bắt ở Quảng Ngãi.

            Cộng Sản rất sợ ông vì ông rất tài giỏi, lại là lãnh tụ nhóm Trotsky, nên Trần Văn Giàu ra lệnh cho Việt Minh ở Quảng Ngãi giết ông.

            Trần Văn Giàu cùng hoạt động với Tạ Thu Thâu ở Pháp, biết rõ khả năng, tài ba của Tạ Thu Thâu nên rất sợ ông. Ông sẽ là người chống Cộng rất hữu hiệu nên vì "lý tưởng đảng" phải giết cho được, ngoài Tạ Thu Thâu còn thêm nhiều phần tử Trotsky khác nữa, không cần một chút lương tâm nào cả.

            Cuối cùng, Cộng Sản "xử" Trần Văn Giàu như thế nào, quý bạn có biết không?

 

7./ HỒ VĂN NGÀ
     


    Trong một đoạn văn NHỚ HỒ VĂN NGÀ, Vương Hồng Sển kể:


         ‘Hồ Văn Ngà da ngăm ngăm đen, mặt xương mắt sáng, miệng rộng, có cái cười rất cởi mở. Nhà nghèo, Ngà rất chăm học, giờ chơi luôn luôn ở lại lớp, tay cầm cục phấn, học riêng không cần thầy. Ngà có hoa tay, viết được cả tay trái, và khi vẽ vòng tròn trên bảng, Ngà cầm phấn quay một vòng tròn hơn vẽ có công-pa tức cái qui. Tuy nghèo mà rất gan dạ, chuyện gì dầu trái, như bỏ trường, cắt nghĩa Ngà nghe phải tai thì hưởng ứng mà theo, bất chấp hậu quả... Cho đến năm đệ tam, Ngà học ngang lớp với tôi. Tôi hơn Ngà môn thể dục và môn tập đọc nhạc phổ (solfège) nhưng chỉ hơn trong hai năm đầu, đến năm thứ ba, Ngà giựt luôn quán quân hai giải này, bỏ tôi xa lắc. Ngà thấy tôi yếu về khoa học và toán, Ngà cố tình chỉ bảo đủ mọi cách, nhưng tôi vẫn hoàn tôi. Nhớ lại năm 1921, vô học đệ nhị mà không sao yên thân. Lão Thomas cho ăn cực quá, nuốt không vô... thêm có nhiều lý do khác, khiến chúng tôi, nhóm học trò khu bản xứ, từ đệ tứ đến đệ nhứt, đồng lòng thừa dịp chiều thứ năm thầy dắt ra dạo chơi ngoài phố (promenade) rồi bỏ luôn không trờ về trường, phản đối tổng giám thị Thomas bất công nhiều nỗi. Ngày sau là ngày thứ sáu, định kéo lên thống đốc nạp đơn kêu nài, nhưng lính đến giải tán . . nhưng cuộc làm reo (grève) bãi học nầy, lần hồi đưa vào thất bại. Chúng tôi không có dự bị, vấn đề ăn và chỗ ở làm cho luống cuống. Đêm đầu có tiền đi xem ciné rồi ăn mì thế cơm. Ngủ thì chen nhau nằm sắp chồng sắp lớp trong một phòng trọ tối tăm. Mấy hôm sau, cạn tiền phải sống bằng viện trợ, đúng hơn là tiền bố thí của mấy thầy hãng tư, kẻ mươi đồng, người hảo tâm hơn cả là năm mươi đồng, làm sao đủ cho hơn hai trăm đứa nheo nhóc phần đói, phần được thơ cha mẹ tuân lời đốc học khuyên răn làm mất hết tinh thần. Chưa đưọc một tuần lễ, tôi được thơ bảo đảm của Ba tôi từ Sóc Trăng gởi lên trong ấy có kèm một bưu phiếu mười đồng bạc, phải vô trường nhờ thầy Dực trên văn phòng lãnh hộ mới xong. Lúc ấy tôi chỉ ăn một ổ bánh mì bốn xu trừ cơm mỗi ngày và đã hai hôm như vậy nên xót ruột quá... Hôm sau trình diện để lãnh tiền, tôi mục kích một cảnh đáng thương tâm và cũng đáng kể lại đây. Hôm đó tại văn phòng, tôi thấy Ngà bị nghiêm thân từ Tân An bắt trói hai tay dẫn ra mắt đốc học Limandoux. Giữa ông Tây quan năm nhà binh và một ông già cổ học Đông Phương, có ông giáo Dực đứng làm thông ngôn. Ngà hai tay bị trói bằng dây luột đứng sát vách. Tôi, với một bộ đồ bà ba nhục nhục cả tuần chưa thay, đứng bên Ngà, vô tình trở nên một nhân chứng bất đắc dĩ.

         - Con của ông, Limandoux nói, đã không nghe lời chỉ bảo và ngổ nghịch bỏ trường ra theo bọn mất dạy, ông là cha, lỗi ấy về ông.

         - Thưa quan đốc học, thân phụ của Ngà nói, quan đốc nói như vậy, tôi dân quê dốt nát xin đỡ lời. Ngà, lúc còn ở nhà tôi, rất ngoan, tôi nói gì, Ngà nghe nấy. Lúc ấy, ‘tử bất giáo, phụ chi quá’, quan đốc trách tôi là phải. Nhưng lúc đó, Ngà biết nghe lời cha mẹ. Chỉ từ khi lên đây ăn học ở trong trường và được quan đốc dạy dỗ, từ ấy Ngà trở nên ngỗ nghịch. Hễ ‘giáo bất nghiêm, sư chi đọa’ thưa quan đốc, vậy lỗi ấy về ai?

         Ông Limandoux nghe ông giáo Dực dịch xong, lật đật đứng dậy xin lỗi, bắt tay ông già nhà quê, mà rằng: ‘Con ông học rất giỏi, đứng đầu trong lớp. Tôi không nỡ đuổi mấy đứa như vậy. Lời ông nói rất chí lý. Nay ông bảo Ngà vô học lại’. Nhưng Ngà khoanh tay cung kính đáp bằng tiếng Pháp:

         - Thưa ông Đốc, tôi không thể vô học một mình. Nếu ông ép tôi cũng nhảy rào trở ra. Chừng nào ông tha tội tất cả anh em chúng tôi, thì tôi mới chịu vâng lời.

         Ngà mất học bổng ...

         Hồ Văn Ngà quê ở Cần Đước, - trên Quốc Lộ 50, Saigon/ Gò Công, gần cầu Mỹ Lợi, xưa là "bắc" Cầu Nổi, sinh năm 1902 - tuổi con cọp -  Ông học trường Chasseloup Laubat, giỏi tất cả các môn. Năm 1925, ông đậu tú tài, được học bổng, du học Pháp. Thi vô mấy trường đại học ở Paris bây giờ khó lắm, phải học sinh xuất sắc mới hy vọng. Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường đang học toán cả. Hồ Văn Ngà cũng thi vô đại học toán. Sắp tốt nghiệp thì Hồ Văn Ngà bị đuổi.

         Lúc bấy giờ ông đang làm Hội Trưởng "Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương" tại Pháp, tổ chức cuộc biểu tình trước điện Élysée, dinh tổng thống Pháp để chống lại vụ xử tử đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí.

         Cuộc biểu tình bị đàn áp thẳng tay. Thay vì đưa tòa án thì bọn Tây bí mật trục xuất những sinh viên chúng cho là "bất trị" về Việt Nam.

         Những người bị trục xuất gồm có:

 

         1- Lê Bá Cang.

         2- Phan Văn Chánh.

         3- Trần Văn Chiêu.

         4- Trần Văn Đởm.

         5- Trương Duy Đạm.

         6- Trần Văn Giàu.

         7- Ngô Quang Huy.

         8- Đặng Bá Lân.

         9-Vũ Liên.

         10- Hồ Văn Ngà.

         11- Đặng Tấn Phát.

         12- Trịnh Văn Phú.

         13- Huỳnh Văn Phương.

         14- Trương Duy Tam.

         15- Nguyễn Văn Tạo.

         16- Nguyễn Văn Tân.

         17- Trần Văn Tự.

         18- Lê Thiết Tự.

         19- Tạ Thu Thâu.

         Về nước, ông dạy học ở tư thục Lê Bá Cang, vẫn bí mật hoạt động. Khi chính quyền Pháp sụp đổ, ông thành lập "Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng", thường tổ chức diễn thuyết, để kêu gọi lòng yêu nước của dân chúng, ược mọi người, dù trí thức hay bình dân tham gia rất đông. BS Trần Ngươn Phiêu viết trong hồi ký: "người viết bài đã có những phút vô cùng cãm động khi nghe ông Ngà đọc diễn văn nhân cuộc tập hợp lớn, ngày 18-3-1945, mừng nước nhà được thoát ách thực dân Pháp, tổ chức ở Vườn Ông Thượng (lúc ấy còn gọi là vườn Bồ Rô).

          Cũng năm 1945, Hồ Văn Ngà cùng Huỳnh Giáo Chủ, Nguyễ Văn Sâm, Trần Văn Ân, Trần Văn Thạch và 7 tổ chức khác kết hợp thành "Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt" chống Pháp giành độc lập.      

         Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nguyễn Văn Sâm được Triều đình Huế cử làm Khâm sai Nam bộ, nhưng vì chưa về Saigon kịp nên 5 ngày sau, ngày 19 tháng 8, Hồ Văn Ngà làm quyền Khâm sai cho đến ngày 22 tháng 8 thì Khâm sai Nguyễn Văn Sâm mới về đến Saigon.

         Hồ Văn Ngà bị giết (trích):
         "Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp đã tái chiếm được Saigon. Kháng chiến Nam bộ chia ra làm hai cánh. Nhóm Đệ Tứ rút về miền Đông. Nhóm Quốc Gia đi về hướng miền Tây.
         Ngày 8-10-45, ở mặt trận miền Đông, Việt minh trở mặt bất ngờ bắt và thanh toán những người khác chánh kiến trong đó đặc biệt người Đệ Tứ bị giết thê thảm (tất cả đảng viên nòng cốt Đệ Tứ đều bị chôn sống ở sông Lòng Sông – Bình Thuận – gồm có Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Số, Phan Văn Hóa, Trần Văn Sĩ, Nguyễn Văn Soái, Nguyễn Văn Tiền...), Nguyễn Long Thanh Nam đánh giá những người này là ‘lãnh tụ xuất chúng về tài ba, đã nổi bật như những ngôi sao sáng của sinh hoạt chính trị tranh đấu miền Nam trong thập niên 30, 40.’
         Đầu tháng 10 năm 1945, quân Pháp tìm cách xua quân tấn công ra ngoại ô để khai thông đường tiếp tế lúa gạo từ miền Tây.

         Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Lâm Ngọc Đường đang lui cui lập ủy ban phong tỏa Saigon - Chợlớn để chận bước tiến của quân Pháp thì Nguyễn Văn Trấn, lúc đó bề ngoài tự xưng là Giám đốc Quốc gia Tự-vệ-cuộc, nhưng phần hành là trưởng đoàn ám sát của Việt minh, tuân lệnh của Trần Văn Giàu đem thuộc hạ bám sát Hồ Văn Ngà. Hồ Văn Ngà bị bắt trong nhà của ông Nguyễn Bá Tường lúc ban đêm.

         Hồ Văn Ngà có lúc bị nhốt chung với tướng Cao Đài Trần Quang Vinh. Người sau này chạy thoát được. Sau này, ngày 13-6-1946 tại Thái Lan, Trần Văn Giàu có thú nhận với Trịnh Hưng Ngẫu rằng hắn đã có giết tới 2500 ngưới quốc gia trong thời đó.
         Nguyễn Long Thành Nam viết: ‘Trường hợp Hồ Văn Ngà xảy ra như sau:

         Ông Hồ Văn Ngà là lãnh tụ cầm đầu đảng Việt Nam Quốc Gia Độc Lập đã nhiều lần tuyên dơng ý chí: ‘sẳn sàng phục vụ bất cứ ai có tài cứu nước, nhưng chính ông lại là nạn nhân của Việt Minh. Ông bị công an Việt Minh bắt trong lúc cùng với Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân thành lập ủy ban Phong tỏa Đô thành Saigon-Chợlớn. Ủy ban này ra đời để ngăn chặn bước tiến của quân đội Pháp, trong khi các cán bộ Cộng Sản trong Lâm ủy Hành chánh Nam bộ đã bỏ chạy. Ủy ban đặt văn phòng tại nhà ông Nguyễn Bá Tường, và thực hiện công tác phong tỏa Đô thành khá hiệu lực. Nửa đêm khi ông Hồ Văn Ngà đang ngủ, công an Việt Minh tới bắt, không nêu lý do, tội phạm chi cả.

         Theo Trịnh Văn Thanh thì Hồ Văn Ngà bị giết vào cuối năm 1946. cái ngày mất của Hồ Văn Ngà có quan hệ đối với trách nhiệm của Trấn Văn Giàu vì khoảng thời gian đó Trần Văn Giàu (người Nam) đã bị Hồ Chí Minh gọi ra Hà nội và giữ lại luôn. Đảng CS đưa Nguyễn Bình (người bắc) từ Bắc vào thay thế. Chắc chắn cái quyết định bắt và giam Hồ Văn Ngà là của Trần Văn Giàu giao cho thủ hạ Nguyễn Văn Trấn thi hành.

         Hồ Văn Ngà bị đưa đi biệt giam tại Cà mau rồi đem đi giết tại hòn Đá bạc. Một bữa trưa, một cai ngục vốn là người học trò cũ có cho Hố Văn Ngà hay rằng tối nay chúng được lệnh giết ông và yêu cầu ông thầy chạy. Nhưng ông thầy này không chạy.

         Theo Hứa Hoành, Hồ Văn Ngà bị đâm chết vào ban đêm và thi hài bị thả trôi sông. Trước khi chết, Hồ Văn Ngà có nói ‘Các anh giết tôi thì giết, nhưng đừng nói... tôi là Việt gian!.’
         Tại sao không giết liền mà giết nguội?
         Có ba lý do song song.
         Cái lý do thứ nhứt là vì Hồ Văn Ngà là một lãnh tụ quốc gia có uy tín nhứt lúc bấy giờ, ông có thể có một giá trị lợi dụng. Chừng nào chắc chắn không thể lợi dụng được thì hạ thủ đâu có muộn.
         Cái lý do thứ hai theo ông Nguyễn Long Thành Nam là ‘Ngà bị giết vì một lòng tin tưởng rằng mình là bạn của Trần Văn Giàu, không bao giờ Giàu hại mình. Hồ Văn Ngà bị giam chung với Vũ Tam Anh, Trần Quang Vinh ở Cà Mau, hai ông Vinh, Anh vượt thoát nhờ kế hoạch phá khám của Nguyễn Thành Phương (Cao Đài)
. Có thể Nguyễn Long Thanh Nam ngụ ý rằng Hồ Văn Ngà có nhiều cơ hội vượt ngục nhưng chỉ chờ Trần Văn Giàu thả ra đàng hoàng chớ không chịu trốn.
         Cái lý do thứ ba là tại ông có một người em ruột đang theo Việt minh, không phải làm lính gác cổng mà là Ủy viên của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh. Người em út này tên là Hồ Văn Hoa (Chín Huê), bác sĩ y khoa tốt nghiệp tại Hà nội. Nếu Chín Huê tìm cách cứu anh và quậy tùm lum thì Hồ Văn Ngà có thể được thả ra, nhưng Chín Huê sẽ bị coi là thành phần không trung kiên và sẽ không được xài. Đàng này sau cả năm mà Chín Huê không có can thiệp gì cả đủ để chứng minh ‘trí thức đầu hàng giai cấp’ của mình rồi thì Việt minh đâu còn e ngại gì nữa mà không giết êm người tù.

         Trong lúc Bác Sĩ Phạm Ngọc Thạch đem Thanh niên Tiền phong giao cho Việt minh để lập công lớn phá vỡ Mặt trận Quốc gia Thống nhất, nhưng sau này không được xài vì bị đánh giá là thành phần chao đảo, BS Hồ Văn Hoa thì một lòng một dạ giữ kín cái miệng, không có than phiền việc đảng giết anh Tư của mình, và vẫn hăng hái công tác đảng, thường xuyên gặp mặt Nguyễn Văn Trấn. Nguyễn Văn Trấn tự khoe:

         ‘Ủy ban kháng chiến hành chánh đặt ở chỗ trạng sư Nguyễn Thành Vĩnh, bây giờ họp hành rôm rả với những: Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Trần Bảo Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Hướng, Trần văn Nguyên, Đặng Minh Trứ, Nguyễn Phú Hữu, Tạ Nhứt Tứ, Tạ Như Khuê, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Chi, Hoàng Nghiệp, Đặng Văn Tốt, Nguyễn Văn Ấm, Nguyễn Văn Hoa, Hồ Văn Huê... và Phạm Thiều, với tôi’
.

         Chín Huê sau này được tưởng thưởng, cho làm những nhiệm vụ tin cẩn. Có lúc làm y sĩ riêng của Hồ Chí Minh, có lúc làm Đại tá Cục trưởng Cục quân y Việt cộng, có lúc làm Thứ trưởng Bộ Y tế của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt nam. Quyền của Chín Huê lớn hơn quyền của Bộ trưởng Dương Huỳnh Hoa vì Chín Huê có chân trong đảng. Trong bưng, đám cán bộ y tế gọi Chín Huê là ‘ông Thầy’. Sau 1975, Chín Huê có về Saigon và được cấp một căn nhà ở Gia định. Một năm sau, Chín Huê chết và xác của y được đem quàn ba ngày tại Dinh Độc lập.
(kỳ tới: 8./ Bùi Quang Chiêu)

hoànglonghải

 

.