Thơ Đỗ Quảng - Đào Dân
ký sự
Trong số anh em Hải quân, nhiều người biết Đỗ Quảng là một nhà thơ. Tuy thơ Đỗ Quảng làm không nhiều, chỉ dăm ba chục bài, đặc biệt những bài thơ làm khi còn ở quân trường. Thơ Đỗ Quảng không phổ biến rộng trên toàn quốc, vì ngoài một số bài đăng trên báo văn học ở Sài Gòn, phần lớn chỉ đăng trên báo chí Hải quân. Và tôi tuy rất yêu những bài thơ của Quảng, nhưng nếu không có một tình cờ may mắn, tôi đã không còn nhớ được thơ Quảng mấy câu.
Số là tôi và Quảng, sau khi cùng đi thực tập trên một
chiến hạm Mỹ về, cùng được
bổ nhiệm làm đại đội
trưởng cho các sinh viên sĩ quan Hải quân đang học Anh ngữ chuẩn bị qua huấn luyện tại Hoa Kỳ. Họ được tạm
trú
tại Tạm trú Hạm ở bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Khi Quảng qua Mỹ làm sĩ quan liên lạc tại trường OCS cho các sinh viên này, tôi
chuyển qua phòng ngủ của Quảng và phát giác các bài thơ của Quảng đã được đánh máy thành từng tờ rời nằm trong hộc tủ. Những đêm làm
Sĩ quan trực, nằm một mình
trong căn phòng vắng lặng, tôi đem
những bài thơ của Quảng ra đọc, đọc nhiều quá rồi yêu thơ Quảng hồi nào không hay, và khi thuyên chuyển qua đơn vị khác, tôi mang những bài thơ đã được đóng thành tập giấy mỏng đó theo như sách gối đầu giường. Không may là tập thơ đã theo
chân những người mua bán ve
chai cùng chung số phận của mấy chục cuốn sách
khác của tôi khi tôi còn ở miền bắc Việt Nam.
Trong những ngày làm quen với ruộng vườn, với con trâu và cái cày trên mảnh đất khô cằn yêu dấu,
tôi
đã vận dụng trí nhớ để ghi lại được khoảng chục bài của Quảng. Nói là hơn chục bài nhưng không có mấy bài trọn vẹn. Có bài
chỉ còn khúc đầu, có bài mất một vài đoạn, có bài chỉ còn khúc cuối, và có bài chỉ có một số đoạn
ngắt quảng. Và bây giờ, nhân dịp xuân về,
tôi
xin sơ lược lại một vài nét trong thơ Quảng để hy vọng có thể tìm lại một chút nào
đó của tuổi vào đời, mà những
bước chập chững là hai năm quân trường tại Nha trang.
Thời gian làm thơ của Quảng là ở tuổi thanh niên, khi mà đất nước đang đi vào giai đoạn tàn khốc nhất của chiến tranh. Cũng như bất cứ thanh niên nào
khác, Quảng cũng nhìn cuộc đời và cuộc
sống bản thân qua lăng kính của
tuổi trẻ và nét đẹp của nó. Tuổi thanh niên cũng là tuổi của lý tưởng,
của hy vọng, của mộng mơ hoa bướm và cũng là tuổi của tình yêu. Và tình yêu của tuổi thanh niên thời đó không phải là thứ
tình
yêu trần tục, điên cuồng, say đắm hay tràn đầy dục vọng như tình yêu của hôm nay. Đó là một thứ tình yêu êm đềm, e ấp một cách dễ thương. Một chút nhớ nhung, một chút giận hờn, một chút kín đáo. Quảng không bày tỏ tình yêu mà trong thơ Quảng, tình yêu như đến tự bao giờ, bày sẵn ra đấy và đang là thời gian đằm thắm nhất của một tình
yêu đang nảy nở. Thành ra
ta không thấy Quảng tỏ tình,
không thấy Quảng thao thức hay thất
vọng vì
tình. Quảng và người yêu chỉ buồn, cái buồn bàng bạc, man mác khi phải chia xa trong những tháng ngày vắng bóng nhau để trở về với cuộc sống bồng bềnh của người thủy thủ:
Ngày chủ
nhật anh dành cho Hạnh đó
Mai thứ hai tàu xa bến mịt mờ
Hạnh sẽ khóc cho lòng thêm nức nở
Anh sẽ buồn rừng núi đến hoang vu
(Ngày của Hạnh)
Trong thơ Quảng không có gặp gỡ, cũng có ít hẹn hò. Không có môi hôn, cũng không có liếc mắt. Những tình cảm đằm thắm nhất chỉ thể hiện qua tâm tưởng. Có lẽ
cái
sỗ sàng nhất của Quảng là một cái nắm
tay, thật dịu dàng, nâng niu như sợ tan vở:
Mắt xanh lệ đọng hồn người
Tay thu ngón nhỏ tay vời nâng niu
Thơm em hương ủ tình chìu
Đêm xô trăm mộng ngày xiêu bóng vàng
(Tình người)
Người yêu đối
với Quảng là một cái gì
trân trọng. Và hình
như không chắc gì Quảng trân trọng người yêu, mà thực ra Quảng trân trọng tình yêu, đặt tình yêu trong tình trạng cao cả, thánh hóa. Tình yêu phải thăng hoa trên mọi ước muốn tầm thường, trên mọi ràng buộc thể xác. Chỉ còn hai linh hồn nương tựa, quấn quýt vào nhau để cùng bay vào vùng trời miên viễn.
Lời yêu thắp sáng môi hồng
Dấu yêu vẫn
giữ trong lòng đó em
(Mưa)
Hay
Mang trong lòng chút
tình Đông Á
Nên núi mòn sông cạn cũng chờ nhau
(Tình đất)
Và cái tình yêu thánh hóa đó của Quảng cũng là tình yêu dâng hiến. Không phải dâng hiến cả cuộc đời vì với nếp sống hải hồ của Quảng thì có
gì vững chắc bảo đảm cho tương lai. Nhưng
chính
sự mong manh đó mà
Quảng lúc nào cũng dành cho
người yêu một tình cảm nồng nàn, một nhớ nhung mãnh liệt, một ước ao diệu vợi :
Cây buồn
lá
cũng xanh xao
Người thương
nhớ đến mòn hao tuổi đời
Sông chia nước cũng ngậm ngùi
Một mai nhớ đắp thương bồi cho nhau
Tình chia đất cũng nổi sầu
Đã không quên được làm sao nhớ hoài
Mưa mùa hôm sớm hôm mai
Đêm nâng niu mộng ngày dài đợi mong
(Mưa)
Sau những lần con tàu tách bến cho một chuyến hải hành dài, Quảng lúc nào cũng mong ước mang về cho người yêu những món quà kỹ niệm, những món quà mà không ai ngoài Quảng có thể
tưởng tượng ra, vì nó không hiện hữu:
Hứa với em
Một chiều thứ bảy
Anh sẽ về, kể chuyện biển xa
Và hứa mang
cho em thật nhiều quà
Những châu bảo
của Thủy cung Hoàng đế.
(Trùng dương sóng vỗ)
Thế đó, quà của Quảng là một cái gì trừu tượng, xa vời. Quà của Quảng không có trong thực tế đời thường, mà chỉ trong ước mơ, hay nói đúng hơn, chỉ là một tấm lòng.
Thậm chí Quảng còn đem cả ước mơ của một đời lính chiến để trao tặng cho người yêu mà rồi anh cũng biết đó chỉ là một thứ
hoa biển, hiện ra rồi biến mất trong thoáng chốc mà thôi:
Thôi nhé cho anh một lần hẹn khác
Hẹn em sau ngày hành quân bắc phạt
Sẽ trả lại cho em ba sáu phố phường
Để gọi là quà của người lính trùng dương.
(Trùng dương sóng vỗ)
Đó là tình yêu trong thơ Quảng, hay cũng chính là tình yêu của Quảng. Nhưng thơ Quảng không chỉ có tình yêu trai gái, không chỉ có "nhớ nhung, mong đợi, giận hờn"; không chỉ có hẹn hò rồi trễ hẹn như câu " Thứ bảy đến mà anh không đến, Để em giận hờn, phiền trách
khôn nguôi. Bởi tàu anh
vẫn còn mãi xa khơi, Còn
lênh đênh vùng biển trời thăm thẳm..."
Vì
tình yêu đó được đặt trong hoàn cảnh chiến tranh mà Quảng là một
thành
viên tham dự. ( Bởi chinh chiến nên anh
còn xa lắm, Còn
lênh đênh ngoài biển rộng sông
dài). Quảng đã tham
dự cuộc chiến bằng mối tình của mình với cuộc đời hải nghiệp. Dầu trong thơ Quảng không có
mấy đề tài nói về Hải quân nhưng cuộc sống giang hồ của người lính biển lúc nào cũng bàng bạc đâu đó, chợt hiện ra nhẹ nhàng rồi lùi dần
nhường chổ cho tình yêu. Nhưng sự hiện hữu của tình yêu cũng chính là sự hiện hữu của cuộc đời hải nghiệp. Do đó nói
rằng Đỗ Quảng là nhà
thơ Hải quân cũng không có gì quá
đáng vì lúc nào Quảng cũng lồng tình
yêu Hải quân trong tình yêu trai
gái.
Hạnh ở đó những
chiều đông
thác lũ
Nha trang buồn rừng núi đến
hoang vu
Tàu anh đi vẫn mơ về bến cũ
Dù xa khơi biển lộng gió mưa gào
(Ngày của Hạnh)
Tình yêu của
Quảng với cuộc đời hải hồ có lẽ
đã
thể hiện ngay trong lần thực tập đi biển
đầu tiên
khi còn ở quân trường vì trong khi một số đông bạn bè khổ
sở vì
phải ôm xô nôn thốc nôn tháo
thì Quảng chỉ thấy cuộc hành
trình nhẹ nhàng
như một nét đẹp hoang dã:
Ra khơi mới biết biển sầu
Gió lên sóng vổ con tàu lao đao
Người ơi Bắc
đẩu phương nào
Bóng đêm tỏa xuống ngàn sao mịt mờ.
(Biển)
Đã nói rằng
tuổi thanh niên ai không có lý tưởng,
nhất là
khi nhìn quê hương đang ngút ngàn trong lửa
đạn. Cái
lý tưởng của Quảng thể hiện rõ nét
trong những ước mơ cao đẹp: Một ngày nào
đó, được đặt chân lên
miền bắc quê
hương yêu dấu theo bước chân của đoàn quân Bắc tiến. Quảng đã vẽ lên nét đẹp
oai hùng
của một Hải quân
tương lai:
Biển chiều chắp cánh tung bay
Ta đi Bắc phạt quên ngày lao đao
Cờ thiêng chắp cánh tay chào
Súng uy nghiêm dựng núi cao hồn người.
(Chiều qua Cửa Việt)
Đi lính là chiến đấu, là chấp
nhận gian khổ, thậm chí chết chóc. Nhưng để làm gì đối
với lớp người như Quảng. Tuy không nói ra, cũng không nêu thắc mắc về ý nghĩa của cuộc chiến, nhưng trong thơ Quảng, có lẽ rõ rệt nhất là tình
yêu dành cho quyê hương đất nước.
bởi chẵng cần phân bua giải
bày
khi Quảng đã thổ lộ tình cảm thiết tha của mình với mảnh đất Việt nam; với con kênh,
ruộng lúa; với núi rộng
sông
dài. Thì đó là lý do thực sự cho một lý tưởng, một mục đích mà dấn thân và lao mình vào cuộc chiến không cần đắn đo trăn trở.
Ta hãy nghe Quảng tâm sự
về quê
hương gần gũi nhất của mình,
nơi Quảng sinh ra, lớn lên và
được nuôi dưởng bằng tình yêu, bằng tiếng hát của mẹ; nơi Quảng được dạy dỗ làm người, làm người Việt Nam
với tâm
hồn bất khuất:
Tôi lớn lên bên
dòng kênh nước đục
Rộng lúa nuôi tôi bóng mát cây vườn
Ánh sáng đầu đời thắp lửa yêu thương
Ánh sáng ngời tôi ngày thơ ấu
Từ dạo xa kênh ngày khôn lớn
Vẫn mang trong lòng tiếng hát mênh mông
(Tiếng hát bên dòng kênh)
Nơi chôn nhau cắt rốn luôn bám sát trong tâm tư của Quảng. Dầu cuộc sống có nổi trôi, phiêu bạt. Dầu cuộc đời có vùi dập, ê chề
thì
một chút hoài niệm về mảnh đất thân thương vẫn là chiếc phao cứu rổi. Dầu cuộc đời có ưu
đãi, cuộc sống có cao
sang, Quảng vẫn không
quên về cội nguồn, về vùng đất mẹ. Thế cho nên với Quảng ở đâu cũng không bằng quê hương vì ở đó là tình yêu mẹ già với
bà
con xóm giềng thân thuộc.
Hai bốn năm trời
xuôi
ngược bềnh bồng
Vẫn nhớ vẫn thương giòng kênh nước đục
(Tiếng hát bên dòng kênh)
Quê hương là bến đợi cho ghe tàu cặp bến sau những chuyến hải hành
dài. Bến đợi tuy không phải là lầu
son gác
tía, không phải là ánh
sáng muôn màu của thành đô
hoa lệ. Nó nhỏ bé, hiền
lành.
Nó đầm ấm thiết tha. Nó luôn
luôn réo gọi sự trở về. Nó luôn
luôn mở rộng vòng tay bao dung chờ đón:
Nước vẫn trôi, dòng xưa vẫn đợi
Máu chaỷ phù sa, nguồn vẫn dạt dào
Tiếng hát êm đềm thần thoại xanh xao
Tiếng hát đưa tôi về miền thơ ấu
(Tiếng hát bên dòng kênh)
Còn nữa. Ta hãy nghe Quảng nói về
quê
hương Việt Nam dấu yêu của
mình
khi có may mắn được đi xa để nhìn về tổ quốc và hoài niêm về một thời thanh bình của quá khứ:
Ngày thanh bình của thuở xa xưa
Của thuở trăm con về nguồn đi tìm dấu mẹ
Trên đỉnh Trường
sơn nhìn
về châu thổ
Em sẽ thấy đồng lúa xanh xanh rừng núi điệp trùng
Em sẽ nghe lời ca sông Hồng tiếng hát Cửu long
Tiếng hát ru em bốn ngàn năm cũ
Đêm Thái bình dương
trăng thanh sóng vổ
Em đẹp thiên thu tóc xỏa hoa cài
(Trùng dương sóng vỗ)
Quê hương bao giờ cũng đẹp. Đẹp từ những ngày ấu thơ, vô tư cởi trần chạy đi tìm dế. Hay những buổi
chiều vàng nhởn nhơ trên cánh đồng vàng với những cánh diều lộng gió. Hay những đêm nghe tiếng mưa rơi tí tách bên
hiên nhà, trên đọt chuối ngọn
tre. Hay những lúc dắt trâu theo chúng bạn ra đồng cùng bác nông phu cày
ruộng, cấy lúa. Những cái tầm thường mà có sức lôi cuốn vô cùng. Càng thu hút hơn nữa khi bước chân giang hồ nay đây mai đó bỗng một hôm gặp phải mưa gió phong ba của cuộc đời thì quê hương
trở thành nơi trú ẩn.
Người lính Hải quân ra đi khi tàu tách bến, để lại sau lưng những bến bờ, những căn nhà, cảnh vật; những con người với mảnh đất thân
thương. Để lại sau lưng những dấu tích của một thời yêu dấu. Hòa mình vào thiên nhiên, với biển cả trong xanh, với tiếng sóng vỗ rì rào thì cũng là lúc Quảng nhớ về nơi quê cha đất tổ, ước mong mảnh đất đó vẫn còn mang nặng tình người, an ủi chở che cho bước chân của đứa con đi theo tiếng gọi của kiếp phong trần:
Xin đất giữ tình người còn lại
Xin mưa nguồn về tưới mát đồng xanh
Xin nước chảy qua trăm miền sông
sâu bến lạ
Cho người bình yên trên nghìn dặm hải hành
(Tình đất)
Thế đó. Chỉ mấy chục bài thơ ngắn ngủi, Quảng đã trang trải lòng mình, trong đó, tình yêu trai gái, tình yêu quê hương đất nước và tình yêu với hải nghiệp, như
một lời nguyện cầu. Nguyện cầu quê hương thanh bình, nguyện cầu cho tình yêu mãi vẫn đẹp vẫn trường tồn và cũng nguyện cầu cho đời lính được chân cứng
đá
mềm. Và cầu mong người con gái nơi xa luôn có một giấc ngủ bình yên:
Thôi ngủ đi em.
Tôi ru em ngủ
Qua cơn bão hồng
Ngày đã xa rồi
Đêm còn mùa đông
Em chưa thức dậy
Nghe lòng
mênh mông
Em chưa thức dậy
Làm sao em thấy
Dấu hoang ngựa hồng
Làm sao em biết
Nỗi đời long đong
Ngày tóc còn xanh
Trên cành lá đổ
Không ai thắp
lửa
Trên cánh đồng
hoang
Không ai thắp
lửa
Bên
ngoài nhân gian
Ngủ đi em
Thôi ngủ đi em
(Lời vỗ về viết trên sóng)
Đào Dân
