Mạng Người Âm Báo - Hoàng Long Hải Gởi Nhã Nam
Bấy lâu nay, vì tranh cử, người ta bàn tới chuyện phá thai. Có phả vì vậy mà anh bạn cùng quê Quảng Trị, gởi cho tôi câu chuyện sau đây, mời các bạn đọc, rồi tôi kể vài chuyện cho các bạn nghe. Những chuyện cũng nên đọc, nên nghe.
Con Bướm Trong Nắm Tay
"Chuyện rằng một ngày xa xưa.
Có một chú tiểu cùng sư trên đường.
Đi ngang qua một khu vườn
Hoa thơm nở rộ bướm vờn tung bay.
Người làm vườn nọ đưa tay.
Rằng:
“Sư thử đoán chuyện này xem sao.
Bướm trong tay tôi thế nào?
Còn sống hay chết thầy sao biết cùng?”
Sư liền vội nói ngay rằng:
“Trong tay thì bướm chết nhăn còn gì.”
Người kia mở tay ra thì.
Con bướm còn sống bay đi vội vàng.
Thày trò tiếp tục lên đàng.
Hồi sau chú tiểu nói rằng: “Thày ơi
Qua kẽ tay con thấy rồi.
Con bướm còn sống, thày thời cũng hay.
Sao thày nói dối chuyện này
Con không hiểu nổi xin thày giảng cho.”
Sư rằng: “Ta chẳng đắn đo.
Thấy bướm còn sống nhưng mà nói sai.
Nếu nói bướm sống thì người
Sẽ bóp chết nó để rồi hơn ta.
Ta nói bướm chết thế là.
Người kia mới thả bướm ra sống còn
Ở đời nên rõ thiệt hơn.
Mạng sống thì đáng quý hơn một lời
Thà nói dối cứu một đời
Chớ nên câu nệ thói đời làm chi.”
Bùi Phạm Thành
(ngày 22 tháng 8 năm 2022)
Mạng một con bướm còn muốn cho nó sống, huống chi con người.
Các nay đã lâu, hồi mới tới định cư ở Mỹ, tôi thường đến "thăm Cụ Trọng." ng Nguyễn Đức Trọng, tức Cụ Mỹ Tín, giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon, trước 1975. Cụ đến đây trước tôi khoảng 5 năm. Chúng tôi cùng cộng tác với nhau trong tạp chí Thế Hệ, rủ nhau đi ăn phở và chuyện trò. Có lần Cụ kể chuyện đời của Cụ.
Sau năm 1930, vì cuộc "Khủng Hoảng Kinh Tế" ở Mỹ, ảnh hưởng đến kinh tế một nước xa xôi, nghèo khổ như nước Việt Nam, đến làng Đốc Tín của Cụ, nên Cụ phải bỏ làng, "vô Nam kiếm ăn", như nhiều người Bắc thời bấy giờ. (1)
Cụ kể: "Trước khi đi, bố tôi dặn: "Nay tình hình như thế nầy, con phải "tha phương cầu thực". Bố đau lòng lắm vì con phải bỏ xứ mà. Nhưng bố dặn một điều, con phải nhớ: "Làm gì thì làm, không được giết người."
"Làm gì thì làm, không được giết người." Tôi hỏi Cụ, "Cụ giữ lời hứa vớ bố?"
Cụ trả lời: "Vâng. Tôi giữ lời hứa với bố tôi. Một là vì tôi thương bố. Hai là vì nó là "văn hóa của người Việt Nam". Người Việt Nam không ưa giết người. Đã nói "Việt Nam là một dân tộc hiền hòa" thì "ưa giết nười thế nào được?"
Tôi hỏi: "Có phải vì đạo Phật trong người Việt Nam."
-"Cũng có thể. Tam giáo đồng nguyên hòa quyện trong lòng người Việt Nam. Trong tam giáo, không có tôn giáo nào chủ trương giết người cả."
-"Thế tại sao Cụ lại chịu "rửa tội".
Trong ba người - "Ông Thầy Bé, tức ông Nhã Nam; bác sĩ Đặng Ngọc Cương và tôi - thường "chơi" với Cụ, tôi là người Cụ ít "ưa" nhứt. Tôi tự nghĩ như vậy. Tại tính tôi muốn biết cái gì thì ưa "hỏi tới".
-"Đó là chuyện riêng tư, không phải vì đạo nầy hơn đạo kia. Ông nên nhớ tôi là một nhà "Thiền Học". - (2)
Vì Cụ Trọng nói người Việt Nam không hiếu sát nên tôi có suy nghĩ nhiều về "vấn đề" nầy. Trước hết, tôi nghĩ đến mẹ tôi, vì mẹ tôi làm nghề "nữ hộ sinh" tại bệnh viện Quảng Trị hơn hai mươi năm. Tôi nhớ hình như vài lần mẹ tôi nói tới chuyện "phá thai". Trong vài trường hợp mẹ tôi nói "phải phá thai", có nghĩa là "giết con cứu mẹ", tức là ở và hoàn cảnh chẳng đặng đừng. Có lẽ mẹ tôi nghe lời dạy bác sĩ Phan Văn Hy, anh bà con với mẹ tôi, làm giám đốc Nhà Thương Quảng Trị. Ông là một bác sĩ Tây Y, lại là một nhà Nho/ Phật, nhà thơ, một "Phật Tử Thuần Thành". Mẹ tôi cho rằng "Phá thai bị âm báo" Lời mẹ tôi nói làm tôi nhớ một truyện ngắn, - truyện "Báo Oán" -, trong "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân.
Truyện kể người anh là một ông Đỗ Đầu Xứ, học rất giỏi, thầy bạn ai ai cũng khen. Thế mà khi đi thi thì:
Trích:
"Ba năm trước, cũng ngày tế tiền trường năm Mão, cảnh trời đất cúng âm thầm gần bằng ngày này. Quan chánh chủ khảo khoa ấy, theo tục lệ quen của mỗi khoa thi, cũng cúng tam sinh khấn mời những oan hồn nên nhập vào trường trước hết mà báo oản trả thù. Rồi ông Ðầu Xứ vào trường, rồi oan hồn hiện lên ngay ở kì đệ nhất. Một người đàn bà trẻ, xoã tóc, ẵm con, hiện ngay lên dưới lều, ngay chỗ đầu chõng, kêu gào giữ rịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán, người đàn bà ấy lấy mớ tóc xoã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy nghiên mực đổ vào quyển của ông. Lần ấy ông xin cánh quyển đến hai ba thứ. Vẫn người đàn bà quấy nhiễu không tha, để quyển ông cứ tì ố mãi. Lúc gần chiều, ông nổi một cơn đau bụng hoắc loạn, phải bỏ dở kì thi, nhờ người dìu về nhà trọ. Thế là ông bay ngay kì kinh nghĩa.
"Biết là có oan hồn hiện lên cố phá không cho mình mở mặt với thiên hạ, ông để tâm tra xét chuyện nhà. Thì ra, lúc sinh thời, cụ Huấn đẻ ra ông đã phạm vào một việc thất đức. Lúc sinh thời cụ Huấn, cụ đã mang lấy trách nhiệm tinh thần về cái chết của một người nàng hầu tài tình nổi tiếng một thời. Người thiếp đó, lúc tự ải, đã có mang được sáu bảy tháng. Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé: “Nó còn đi thi, cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn những gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó phạm huý, cho nó bị tội cả nhà kia. Nhưng nhà nó cũng có một ông mãnh thiêng lắm, cô không tàn hại nó được như lòng cô muốn”. Con đồng chỉ lắc lư nói có thế, nếu có gặng hỏi thêm thì chỉ khóc hu hu rồi lại lăn ra mà cười như bị cù. Ông Đầu Xứ lạnh đến tuỷ xương sống trong người. Và lo nghĩ từ ấy.
Biết mình bị báo oán, ông anh Đỗ Đầu Xứ, nhưng chưa từ bỏ cái "mộng quan trường", ông đặt hy vọng vào người em, cũng là một học trò giỏi, trong hàng sĩ tử:
…Ông Đề Điệu
đã leo lên ghế chéo. Một người lính thể sát bắc ống loa, hô:
- Báo oán
giả tiên nhập
- Báo ân giả
thứ nhập
- Sĩ tử thứ
thứ nh... ập.
Tiếng loa
đồng xoáy sâu vào màn mưa lạnh. Ông Đầu Xứ Anh nghe tiếng hô, mặt nhợt nhạt,
luôn luôn nhìn trộm em. Người em bây giờ chỉ là một thân cột cứng đờ mà sự thi
cử đã mắc vào đấy biết đến bao nhiêu thứ múi dây lòng thòng: dây lều, dây
chõng, dây buộc bộ gọng ống quyển... Cùng với ngàn ngàn người khác, hai anh em
đứng nghểnh mãi cổ lên, kiễng mãi người lên như muốn nhìn rõ mặt người lại
phòng xướng danh. Đã lâu chôn chân xuống bãi sũng nước, lòng dạ người người đều
bàng hoàng. Bỗng ông Đầu Xứ Anh dun mạnh người em:
- Kìa...
làng Cổ Nguyệt! Tên chú! Vào đi.
Quan Đề cho "âm báo" vào trước. Trước là báo ân "Báo ân giả tiên nhập". Tiếp theo là báo oán: "Báo oán giả thứ nhập."
Sĩ tử vào, dựng lều, đặt chỏng, chuẩn bị quyển, mực... Và đến khi thi thì người em - Ông Đầu Xứ Em - lại bị rơi một hoàn cảnh báo oán không khác chi người Anh - Ông Đầu Xứ Anh:
"Cái bản giáp bài viết xong lâu rồi mà quái lạ, hễ cứ động đặt ngòi bút lên mặt quyển là ông Đầu Xứ Em lại thấy đau bụng, đau quằn quại tựa chứng hoắc loạn cứ như dùi vào từng miếng tì vị. Ông cựa quậy nhiều lắm, vừa ôm bụng vừa giữ ống quyển. Cái chõng tre đặt trên bãi cỏ ngập, lún xuống lần lần. Giữa hai cơn đau bụng, những lúc trời ngớt mưa, từ khu nhà thập đạo, vẳng về lều ông những tiếng kêu nài: “Lạy các quan, còn chỉ có một khoa thi này, xin các quan thương cho anh em đổi quyển. Trời mưa ướt lắm, anh em có muốn như thế làm gì...”
Thấy ở một vài lều chung quanh có khói lửa và tàn vàng bay ra, ông Đầu Xứ Em sực nhớ đến đinh vàng cất trong tráp, bèn lấy ra gỡ từng tờ một, xếp ngay ở đầu mép chõng, một tay chận cơn đau nơi bụng dưới, một tay châm mồi lửa bùi nhùi. Gió thổi vào đống lửa vàng hoá bùng bùng, lửa kêu vù vù và trong tiếng ngọn lửa reo, lại có tiếng người nói cười lanh lảnh. Khỏi bốc lên, tỏa xuống soai soải, Như những vệt nước thời gian trượt trên đầu ngọn tường xuống lần vách gạch những đền chùa xưa cũ có mốc vẽ hình, có rêu phong dấu. Những vờn khói nhẹ đã đổ xuống nhanh đổi màu rất mau chóng. Trước mắt ông Đầu Xứ Em mê mệt và hoảng hốt, những vờn khói – thoảng mùi gây gây khét và tanh lợm – bỗng sẫm hẳn lại thành một mớ tóc xoã và mớ tóc u hiển không chờ đợi ấy đóng khung lấy một khuôn mặt người. Lửa vàng gần lụn, vụt bùng lên và tiếng cười lanh lảnh trở nên the thé, rồi nấc lên mãi. Trời đất tối sầm xuống. Ông Ðầu Xứ Em cảm thấy bãi trường là thừa lạnh lẽo. Trường thi âm u và không quạnh. Gió thổi bay quyển thi xuống làn cỏ dầm nước. Ông Đầu Xứ Em gắng nhoài người ra, muốn vớ lấy quyển bị gió thổi bốc khỏi mặt tráp. Nhưng ông hụt tay, chỉ đủ giữ mình khỏi ngã. Cơn đau bụng nổi lên dữ dội hơn hết những giờ phút vừa qua. Ông gục xuống tráp, thiếp dần.
Ông tỉnh giấc, thấy trong người nhẹ hẳn, tưởng chừng như cơn đau dữ dội ban nãy chỉ là một cơn ác mộng. Ông bỡ ngỡ, mất hết cả ý thức về thời gian và không gian. Ông ngơ ngác trước hoàng hôn. Từ một chòi nào, người ta đã điểm mau hồi trống ngoại hạn.
Ông Ðầu Xứ Anh ra đón ở cửa trường. Bỏ lại cả lều và chõng, cầm chỉ vỏn vẹn có một bản giáp ông Ðầu Xứ Em đã rời bước trong một giấc mơ.
Hai anh em gặp nhau, lẳng lặng không nói một câu nào suốt từ cửa trường về đến nhà trọ.
Bửa
cơm ấy, tại nhà trọ bà Phùng có một người hỏng thi đã uống hết ba bình rượu
cúc... vào một đêm dài nhất trong một đời người./.
Hết./
Mấy bữa nay, chuyện cho phá thai hay không cho phá thai ở Mỹ, chuyện "giết người diệt khẩu" bên Việt Nam làm tôi suy nghĩ đến vài việc "linh thiêng, huyền bí" trong đời người. Trước kia, vụ đại tướng Nguyễn Chí Thanh, vụ Nguyễn Bá Thanh, vụ đại tướng Phùng Quang Thanh, ông nào cũng tên Thanh mà khi chết chẳng nói được tiếng - THANH - nào, cũng đủ cho chúng ta thấy chế độ ấy giết người tàn bạo như thế nào.
Vụ Vạn Thịnh Phát chưa xong mà đã bốn người mất mạng rồi.
Nếu là người Việt Nam chân chính, dù luật pháp như thế nào, người ta cũng không giết nhau tàn nhẫn đến như thế. Dù người Việt Nam theo tôn giáo nào thì người ta cũng phải nghĩ đến "âm báo" như trong truyện ngắn của Nguyễn Tuân. Đó chính là tôn giáo của người Việt Nam đấy. Dù theo đạo Chúa, dù theo Phật, người Việt Nam thường tin vào Trời. Trời là công lý, là lẽ phải. Ông Trời cầm cái cán cân công lý ở cõi đời nầy. Không có Chúa, không có Phật cũng được, nhưng không thể không có Trời bởi vì "Không Trời ai ở với ai."
"Âm báo", có khi người ta gọi là "quả báo" là do trời đấy.
Có lẽ vì vậy mà lời dặn của thân phụ Cụ Mỹ Tín: "Làm gì thì làm, không được giết người." cứ ám ảnh tôi.
Tôi là người lính Việt Nam Cộng Hòa. Cầm súng ra trận mà lòng tôi không hận thù ai, dù "nó là tên Việt Cộng". Giữa chiến trường, súng nổ qua lại. Chúng nó bắn chúng tôi thì chúng tôi bắn lại. Cũng lắm khi chúng tôi nổ súng trước. Đạn trúng ai nấy chịu. May mắn là tôi chưa rơi vào hoàn cảnh như Tướng Loan, đưa cây roulau bắn vào đầu Bảy Lốp.
Cũng nhờ trời.
Ăn oán nhãn tiền, ngay kiếp nầy, không phải chờ tới kiếp sau./
hoànglonghải
(1) "Sống
mòn" của Nam Cao, kể về hậu quả cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế ở Mỹ có ảnh hưởng
nặng nề đến kinh tế Việt Nam hồi thập niên 40 thế kỷ trước.
(2) Khoảng cuối thập niên 1950 thế kỷ trước, ở Saigon có một số nhà văn Công giáo, thành lập "Tinh Việt Văn Đoàn", do ông Phạm Đình Khiêm, Phạm Đình Tân lãnh đạo, được ông Ngô Đình Nhu đỡ đầu, nhằm mục đích "đánh phá Phật Giáo" về mặt tín ngưỡng. Cụ Mỹ Tín ở trong nhóm nầy, được hai ông lãnh đạo đề cử "nghiên cứu Phật Giáo" với mục đích vừa nói. Vì đảm nhận công việc nầy mà Cụ Mỹ Tín trở thành một nhà thiền học./
