Tuesday, November 15, 2022

Những Nỗi U Hoài! - Hoàng Long Hải



Tôi về nước lần nầy là lần thứ hai!
Lần trước tôi về với con trai, lần nầy tôi về với hai con gái, trong đó, một cô áp út, đem theo chồng và con trai để thăm viếng bà con và mồ mả bên nhà chồng nó. Cô gái kia là là chị kế của nó. Hai cô nầy đi đâu cũng có nhau, như “cặp bài trùng”. Với tôi thì các con bảo: Để ba về thăm quê, thăm mồ mả. Lần trước, chỉ về tới Saigon mà thôi. Chưa kịp “về miền Trung”. Dĩ nhiên, lần nầy tôi “về Trung” sau khi đi chơi Đà-Lạt, Vũng Tàu.
 
Cũng như mọi người, quê hương là điều vấn vương, nhớ nhung trong lòng người xa xứ như tôi vậy. Xa càng lâu, thương nhớ càng nhiều. Đó là thế gian thường tình. Với lại lớp người trốn chạy Cộng Sản từ hồi 1975, nay ai cũng già cả rồi, gắng về với quê hương một lần cuối. Ai cũng nghĩ, chắc khi mình về. Những người lớn tuổi trong xứ còn nhớ mình là ai, nhưng với bọn trẻ, bọn nó sẽ hỏi: “Khách tòng hà xứ li” như trong bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” vậy. Chúng nó gọi ta là khách, đâu phải người “làng ta”. “Ông già nầy lạ lắm, chưa từng thấy bao giờ!
 
Trường hợp tôi càng đau đớn hơn!
Người ta về quê, dù người có thay đổi, có già nua, quá vãng, trẻ con lớn lên lạ lẫm, nhưng cảnh quê vẫn còn đó, còn mái nhà xưa, con sông vẫn im lìm trôi dài trên những cánh đồng làng mạ xanh hay lúa vàng êm ả. Con đường cũ vẫn còn đó. “Tôi, con đường quê chạy lang thang, mang nỗi buồn không dạo khắp làng”. Nhiều người con nhớ bài thơ nầy của Tế Hanh.
 
Tôi thì không. Tôi không còn gì cả. Căn nhà xưa, nơi tôi sinh ra và lớn lên cùng mẹ và các anh chị nay không còn. Sau trận chiến tranh tàn khốc năm 1972, quê hương tôi thành bình địa. Mọi người “di tản” hết cả rồi, không còn ai trở về chốn cũ. Thay vào cảnh cũ là một lớp người mới, từ miền quê lên, hay từ ngoài vĩ tuyến 17 trở về, sau khi họ ra đi năm 1954.
 
Nhìn vào chỗ nhà cũ của mình là một ngôi nhà lầu mới của ai đó. Tôi đứng bên đường nhìn qua chỗ đất cũ mà không vào hỏi thăm ai đang ở nơi nầy. Tôi sợ vì tôi là kẻ chiến bại, kẻ chiến bại bị mất nhà, biết đâu khi vào hỏi thăm, kẻ chiến thắng sợ tôi về đòi đất, đòi nhà. Tôi đành mang nỗi đau đớn của kẻ thua cuộc đứng nhìn vào dĩ vãng mà tiếc nuối thời thơ ấu! Dĩ vãng xa xôi mờ mịt, ngay trước mặt tôi mà tưởng như đã trôi về một miền xa xôi thăm thẳm nơi chân trời góc bể nào đó không bao giờ sờ nắm lại được, thấy được một lần thứ hai nữa.
 
Vậy mà tôi tưởng như còn đó, rõ ràng như mới ngày hôm qua. Mẹ tôi ngồi đong đưa trên cái võng giây, nhai trầu bỏm bẻm, các anh chị cháu chắt đi lại, và đáng yêu thay, ngày tôi cưới vợ, em gái tôi nắm tay cô dâu dắt vào nhà khi cô dâu còn ngỡ ngàng bước ra khỏi chiếc xe “rước dâu” đậu ngang cổng nhà.
 
Ngày sum họp cuối cùng, anh em gặp nhau, cùng với các anh chị… là hôm tôi từ Khe Sanh ghé về thăm mẹ trước khi về đơn vị. Hùng, chú em út, cũng từ cuộc hành quân Hạ Lào rút về dưỡng quân bên kia bờ sông Thạch Hãn. Đây là lần sum họp cuối cùng của gia đình tôi năm 1971, một năm trước khi trận chiến tàn khốc, cuối cùng của quê hương tôi năm 1972.
 
Rời con đường cũ, tôi lang thang đi ra phía bờ sông Thạch Hãn cách đó cũng không xa. Hình như người Việt Nam ai cũng có “một dòng sông” của đời mình, in đậm trong tâm khảm. Nếu có ai hỏi “tâm hồn mình” là cái gì? Chắc không ít người trả lời “Tâm hồn tôi là một dòng sông”, một dòng sông hồi nhỏ, của thời thơ ấu, thời niên thiếu trước khi dấn thân vào cuộc đời phiêu lãng của một khách giang hồ, như một nghệ sĩ, hay ít ra là một người lính của một cuộc chiến tranh kéo dài quá lâu trên quê hương nhỏ bé nầy.
 
Thú thật với các bạn tôi là người có nhiều óc tưởng tượng.
Với tất cả mọi người, sông Thạch Hãn không phải là con sông đẹp! Tôi cũng vậy, nhưng không sao tôi quên được những buổi chiều hè ngồi bên bờ sông Thach Hãn. Bờ sông nầy, “tôi đã đi lại lắm lần”, nhưng không bao giờ “tôi thấy lạ”.
 
   Tuy không nổi tiếng là con sông đẹp, nhưng sông Thạch Hãn là một phần “máu thịt” của quê hương và lịch sử nước ta. Vì vậy, hình ảnh con sông nầy đã được khắc lên Cửu Đỉnh thời Minh Mạng, cũng như cụ Tam Nguyên, bảng nhãn Võ Duy Thanh từng cảm tác khi qua sông nầy.
 
Bụi hồng dong ruổi tới Trường an
Nghe nói đâu đây suối Bạch Đàn
Ấy cảnh tự nhiên ai khéo vẽ
Mà kho vô tận lúc nào khan
Bên đường xe ngựa nên dừng bước
Mượn thú non sông cũng tạm nhàn
Đây phải Liêm Tuyền chăng đó tá?
Muốn đem rửa ruột khách quan san!
 
(Cảm tác qua sông Thạch Hãn
Bảng nhãn Võ Duy Thanh
 
 
Thạch Hãn giang
(Nguyễn Khuyến)
 
Thạch Hãn giang lưu nhất trạo hoành,
Tịch hà yểm ái viễn sơn minh.
Tây phong hà xứ xuy trần khởi,
Bất dĩ niên tiền triệt để thanh.
 
Khua ngang dòng Hãn một con chèo,
Lấp loáng non xa nhuộm nắng chiều.
Trách trận gió tây tung cát bụi,
Chẳng còn như trước nước trong veo.
(Bản dịch của Hoàng Tạo)
 
Có lần tôi tranh cãi với ông bạn Lương Thúc Trình chữ “Gió Tây” trong bài thơ chính là “Gió Nam”, có khi còn gọi là “Gió Lào”. Gió Lào thổi về mùa hè, làm cho bãi cát bên kia sông, thuộc làng Nhan Biều - làng ngoại tôi - tung gió bụi, không ít khi là những cơn gió xoáy mịt mù bụi cát. Còn nếu như hiểu “Gió Tây” như quan điểm của Trình là “Gió Bấc” - nói trại tiếng Bắc - là gió thổi về mùa Thu Đông, như trong câu thơ Chinh Phụ Ngâm “Gió Tây nổi không đường hồng tiện” thì làm sao có “bụi hồng bay” ở bãi cát bên kia sông. Theo Lương Thúc Trình hiểu, ngọn gió từ hướng Bắc thôi về chính là ngọn gió xuất phát từ hướng Tây, còn gọi là “Kim Phong”. Kim thuộc hướng Tây. Nếu hiểu theo địa lý hình thể Trung Hoa, thì gió mùa lạnh ở bên Tàu là gió từ hướng Tây tới. Người Việt Nam - kể cả người bình dân - đôi khi cũng hiểu như người Tàu nên mới có câu ca dao: “Ra về để áo lại đây, Để khuya em đắp ngọn gió Tây lạnh lùng.” Hiểu sâu xa như Trình thì tôi đành chịu thua, mặc dù, hồi còn dạy học, Trình dạy môn Toán còn tôi dạy Việt Văn. Về văn chương - và đôi khi cả triết học chính trị, tôi thường phục Trình là người sâu sắc, như Trình có lần giảng cho tôi về Lock, một một triết lý chính trị người Anh, mà tôi có kể lại trong bài “Thương nhớ Lương Thúc Trình” khi nghe tin Trình qua đời ở Trà Cổ, gần ngã ba Dầu Giây.
 
Chúng tôi - tôi và Trình - cũng như không ít lần tôi với Hường, vợ tôi, ngồi chơi bên bờ sông Thạch Hãn. Về mùa hè, sông Thạch Hãn đẹp “lạ lùng”.
 
Phía Tây là rặng Trường Sơn.
Trường Sơn xanh ngắt. Tuy là rừng, Trường Sơn không xanh màu lá cây mà xanh màu biển, trãi dài từ Bắc xuống Nam. Hình ảnh rặng Trường Sơn thường làm cho tôi nhớ “Làng Từ Lâm” của Nhất Linh: “Tôi tới một nơi gọi là Từ Lâm, xa xa toàn là núi, ngọn nọ ngọn kia không dứt. Núi màu lam buổi sáng buổi chiều, mây bay sương phủ”. (Người quay tơ - Nhất Linh). Tôi rất tiếc Nhất Linh không tả mây ở nơi ông viết “xa xa toàn là núi” bởi vì về mùa hè, nhìn lên rặng Trường Sơn, tôi cũng thấy “xa xa toàn là núi” nhưng “Mây Trưòng Sơn” thì đẹp lắm. Núi giăng một dãy dài, nhưng mây giăng nhiều dãy dài, như những giải khăn lụa trắng vắt ngang vi người con gái mặc ao màu thiên thanh vào một ngày lộng gió đứng bên bờ sông vậy.
 
Khi trời đã ngã về chiều, mặt trời đỏ ối càng lúc càng xuống thấp, sắp sửa chạm vào một đỉnh núi nào đó trên dãy Trường Sơn, ánh nắng phản chiếu vào mây, lóe lên một màu đỏ kỳ lạ. Nó không phài là màu máu mà lại là một màu đỏ rực rỡ của lửa, của lửa đấy, không ghê rợn như màu máu. Cái màu đỏ rực rỡ ấy lại phản chiếu vào những đám mây chung, làm cho phương trời tây càng thêm rực rỡ. Tôi tiếc lắm, bởi vì không bao lâu sau, khi mặt trời núp sau những ngọn núi dài bất tận kia, là khi màu đỏ biến mất. Trời chuyển sang màu tím, từ tím lạt qua tím sẫm. Rồi bóng đen từ chân núi dâng lên, cao lên. “Chiều lên dần dần, chiều không xuống”, như Xuân Diệu nói vậy, nhưng tôi lại thích hai câu thơ khác của ông: “Chiều ơi hãy XUỐNG thăm ta với.” Không phải tôi thích câu nầy, mà chính là tôi thích câu tiếp sau: “Thiên hạ lìa xa đời trống không!” Làm gì có ai lìa xa, làm gì có “đời trống không!” Văn chương mơ mộng hão huyền, lãng mạn mà thôi!
 
Nhưng ngay đỉnh của những ngọn núi ấy, khi Trường Sơn từ bắc xuống nam bỗng nhô cao lên, tôi biết đó là “Khe Gió”, có khi người ta gọi là “Cửa Gió”, chính là nơi “Gió Lào” hay còn có cái tên khác là “Gió Nam” quay ngoặt về hướng biển Đông, làm cho khí hậu “Quảng Trị tui” nóng lên, nhất là về mủa Hè. Đó là khi “Ngàn phượng rưng nắng ngoài sông… Thạch Hãn)
 
Ngay Khe Gió là nơi các bộ lạc người Stiêng, người Vân Kiều sinh sống. Họ nghèo lắm, và “hưởng cơn Gió Lào nóng” trước hơn ai hết. Từ nhỏ, tôi từng nghe câu ca dao (Quảng Trị) nói về họ:
 
“Gió Nam non thổi lòn Hoong Cóc
Phận em nghèo nên mồng đó… em khô”
 
Quí vị nào muốn biết thêm vẻ nỗi nghèo khổ đến nỗi “Mồng đó…em khô” của người dân Thượng Việt Nam ở quê tôi xin đọc “Gió Nam Non” mà tôi là tác giả, trên vantuyen.net.
 
Nhưng nỗi đau khổ của dân tộc nầy đâu chỉ có thế. Trong một trăm năm “đô hộ giặc Tây…”, ngay ở Khe Gió cũng có một nhà tù: Nhà Tù Lao Bảo, nơi giam giữ và đày đọa “chính trị phạm” - danh từ thường dùng hồi trước 1945, là những người hoạt động chống Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc.
 
Hình như Tố Hữu từng bị giam ở dây:
 
“Đèo cao vút vươn mình trong lau xám
Đá uy nghi trầm mặc dưới trời tro
Gió nói gì với rừng sâu u ám
Đường sao run tê tái cả hồn thơ!
(còn tiếp)   
    
hoànglonghải