Sunday, December 11, 2022

Về Nơi Phố Thị… - Lê Đình Cai
ký sự



Sau khi kết thúc trận đệ nhị thế chiến (tháng 8-1945) Pháp lại theo chân quân đội Anh để trở lại Đông Dương .Vào những năm 1946,47, ở miền quê tôi, người dân phải sống trong cảnh “một cổ hai tròng”. Ngày thì chịu sự kiểm soát của chính quyền thuộc Pháp, đêm thì phải đi đào hầm đặt chông đặt mìn , hay tham gia những cuộc mít tinh đấu tố theo lệnh của chính quyền Việt Minh.

Lúc nào cũng lo sợ không bên này thì cũng bên kia bắt giữ, giam cầm hay sát hại...Sau lần xuýt bị Việt Minh xử tử ở làng Linh Yên vì bị nghi là làm gián điệp cho Tây, mẹ tôi không còn lòng dạ nào nghĩ đến chuyện buôn bán ở các làng lân cận để kiếm tiền nuôi con nữa. Ba Má tôi đã bàn định với nhau nhiều ngày, cuối cùng quyết định đem gia đình trốn lên Tỉnh nơi chính quyền quốc gia đang kiểm soát để mưu cầu một cuộc sống mới an ninh hơn. Đây là một quyết định không đơn giản tí nào. Ruộng vườn, nhà cửa, mồ mã ông cha, bà con hàng xóm... Đã gần nửa đời người cưu mang ấp ủ bỗng chốc phải lìa xa. Còn gì đau đớn cho bằng. Ba má tôi lúc đó chưa đầy 30 tuổi. Ba tôi tuổi Mậu Ngọ (30 tuổi), mẹ tôi tuổi Kỷ Mùi (29 tuổi). Ba tôi chỉ đậu bằng tiểu học thời đó, còn mẹ tôi chỉ biết chữ mà thôi làm sao sinh sống được ở chốn phồn hoa đô hội. Nhưng đã quyết ra đi để tìm sinh lộ cho các con thì phải dứt khoát.

Gia đình tôi ra đi vào một đêm tối trời mùa đông rét mướt của năm 1947, lúc tôi lên 5 tuổi và anh trai tôi lên 7, mẹ tôi đang ẳm trên tay thằng em tôi chưa đầy 6 tháng. Gia đình tôi cả thảy 5 nhân khẩu đang liều lỉnh cho một chuyến đi thay đổi cả cuộc đời. Chúng tôi phải trốn đi chứ không phải tự do di chuyển công khai vì nhiều con mắt thường xuyên theo dõi của dân quân tự vệ theo Việt Minh ở trong làng. Nếu biết được ý đồ trốn đi của gia đình, ba má tôi chắc chắn là phải khốn đốn với “Ban Hội Tề” ngày đó.

Ra đi trong đêm tối, mỗi người chỉ đeo theo người một bị lát đựng quần áo gọn nhẹ, có vẻ như đi thăm bà con, nếu có bắt gặp dọc đường cũng dễ giải thích. Tôi không biết là đi được bao lâu thì ba má tôi ghé lại căn nhà dì tôi ở làng Bích La khi trời chưa hừng sáng. Dì dượng tôi mừng rỡ đón gia đình tôi vào nhà. Trời bên ngoài rất lạnh, anh tôi và tôi được mẹ cho ăn mặc nhiều lớp áo và có cả cái tơi  chằm bằng lá “ghé”, cứ gió chiều nào là xoay về chiều đó nên cũng đỡ rét, vã lại đi bộ cả một quảng đường dài nên anh em tôi không thấy lạnh lắm.

Gia đình tôi ở lại làng Bích La với dì dượng tôi ngày hôm đó cho đến xế chiều. Sau khi ăn cơm xong là gia đình sửa soạn di chuyển lên tỉnh. Đoạn đường từ Bích La lên tỉnh đi bộ chưa đầy nửa tiếng đồng hồ nhưng gia đình đã đi cả tiếng mới tới nơi vì anh tôi và tôi còn nhỏ nên đi chậm. Điều may là đoạn đường này tương đối an toàn vì gần thị xã nên ít có sự hoạt động của Việt Minh.

(Dì tôi là chị ruột của mẹ, lấy chồng ở làng Bích La. Vài năm sau khi dì tôi qua đời vì bệnh, mẹ tôi đã đem chị Bé con của dì lên tỉnh nuôi và anh em tôi coi chị như là người chị cả của mình).

Gia đình bắt đầu đặt chân lên thị xã Quảng Trị khi trời sẩm tối. Lần đầu tiên thấy ánh đèn chúc ngược ở từng cột điện, tỏa ánh sáng vàng vọt lên từng mảng đường rải nhựa, rồi những ngôi nhà cao tầng với ánh đèn sáng loáng, thỉnh thoảng một vài chiếc xe hơi chạy qua bóp còi tinh tinh, rồi những chiếc GMC chở đầy lính tráng...Tôi cảm thấy mình như bước qua một thế giới khác náo nhiệt, ồn ào và lạ lùng, khác với vùng quê yên ắng, tĩnh lặng mà tôi đã sinh ra và lớn lên từ bấy đến giờ...

Chúng tôi tá túc tại nhà của một gia đình mà tôi gọi là bác họ (bác Trương Sĩ Triền) ở con đường chính đi thẳng lên nhà ga xe lửa. Ở đó bác Triền đã cho ba má tôi che tạm một chái nhà dựa vào vách tường đủ để cả gia đình có nơi cư trú. Bác Triền mà ba gọi bằng anh cùng tuổi với ba tôi đã hết lòng giúp đỡ tìm việc làm cho ba tôi (Bác Triền về sau tự học đổ cử nhân Pháp văn và làm việc trong ngành thông tin. Hiện bác đang định cư ở Seattle theo diện HO và tôi đã có dịp gặp lại bác vào dịp đệ tứ chu niên báo Chính Luận được tổ chức ở trên đó).

Còn má tôi ra chợ tìm cách mua bán để kiếm đồng ra, đồng vào, gia đình tôi bước đầu như thế là tạm ổn. Chúng tôi không còn lo lắng về sự mất an ninh như những ngày còn ở vùng quê nữa. Và ở đây tại vùng phố thị này, anh em tôi được ba má xin cho nhập học trường nam tiểu học Quảng Trị vào niên học 1948-1949.

Những ngày đầu ở phố thị, cái gì đối với tôi cũng lạ lẫm, con đường rãi “dầu hắc” thì rộng và dài hun hút từ nhà ga cho đến trại lính nằm gần cửa hữu của cổ thành Quảng Trị, hai bên phố xá buôn bán tấp nập mà sau này mang tên là Trần Hưng Đạo. Chợ Quảng Trị nằm cạnh bờ sông với nhiều dãy quán xá chung quanh bao lấy tòa nhà trung tâm to lớn của chợ nơi chủ yếu bán sỉ các loại hàng vải sợi và đồ dùng bằng gốm và bằng nhựa...

Con đường Gia Long dọc bờ sông trước tòa thị chính chạy dài xuống chùa Tỉnh Hội và nối với con đường đất dẫn về chợ Sải thật là thơ mộng và cứ độ hè về, hoa phượng nở đỏ cùng tiếng ve sầu áo nảo nhắc nhỡ cho chúng tôi mùa chia tay với những tập lưu bút của tuổi hoa niên. Con đường Lý Thái Tổ, đường Quang Trung dẫn về sân vận động và trường trung học Nguyễn Hoàng quả thật sau này đã ôm chặt biết bao kỷ niệm của tuổi ấu thơ. Phố thị Quảng Trị không rộng lắm nhưng thật là ấm cúng và nhiều tình người. Tôi sẽ còn nhắc đến thành phố thân yêu này của tôi trên nhiều chặng đường đời mà tôi đã trải qua từ thời thơ ấu cho đến ngày giã biệt để lên đường vào kinh đô Huế xây mộng ước của tuổi thanh xuân “không công danh thà nát với cỏ cây”( theo quan niệm của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ mà các thầy cô dạy Việt văn đã truyền thụ cho chúng tôi khi theo học 6 năm dài ở trường trung học Nguyễn Hoàng).

Tôi bắt đầu vào học lớp năm của trường nam Quảng Trị vào mùa Thu năm 1948. Hồi đó chưa có trường ốc như khi theo học lớp nhì và lớp nhất sau này (xin nhắc lại lớp năm tức là lớp 1 và lớp nhất tương đương với lớp 5 bây giờ). Chúng tôi được học ở đình làng Thạch Hãn, cạnh vườn bông, gần bờ sông. Ngôi đình khá rộng, mỗi lớp chiếm một góc đình. Lớp học thường ồn như nơi chợ búa vì cả bốn lớp đều ê a đọc vần ở trong cùng một ngôi đình mà không có tường vách ngăn cách.

Tôi nhớ hồi đó tôi học lớp năm và lên lớp tư với cô Hồ, vợ của thầy Lương Thanh Phiệt. Cô Hồ có người con tên là Lương Thanh Khiết cùng học với tôi. (Sau này Khiết tốt nghiệp bác sĩ, sau tháng tư đen 1975, Khiết đi cải tạo như tôi và hiện nay đang hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn). Tôi nhớ cô Hồ người nhỏ nhắn, tánh tình điềm đạm, rất thương yêu học trò. Cô là cô giáo đầu tiên cầm tay tôi để nguệch ngoạc những mẫu tự a,b,c...đầu tiên của một thằng bé vừa từ vùng quê ra phố thị với tất cả những bở ngỡ đầu đời.

Tôi còn nhớ một kỷ niệm khó quên của những ngày thơ dại ấy. Hôm đó trên đường đi học về, tôi nghe tiếng còi xe hụ từ xa, tôi quay nhìn lại thì một chiếc xe bọc thép (khác với xe bọc thép chạy bằng xích sắt sau này), bằng bánh cao su đang xộc đến phía tôi. Tôi hốt hoảng nhảy xuống con mương đã đào sẵn để lót các ống cống dẫn nước và lọt tõm vào lòng tròn của một vòng cống để núp. Xe đi qua rồi mà tôi chưa kịp hoàn hồn. Một vài thằng bạn đồng lớp đi cùng đã phá lên cười nứt nẻ và xuống ống cống lôi tôi lên...Mấy đứa bạn tôi thì đã quen, còn tôi vừa mới lên phố thị lần đầu mà, cứ tưởng chiếc xe ấy sẽ đâm bổ vào mình nếu không tránh kịp.

Lên lớp ba tôi học với thầy Xáng và thầy Hành. Lớp nhì tôi học với thầy Bùi Thúc Nghinh và lớp nhất để lấy bằng tiểu học thì do cô Đinh Thị Kim Trâm phụ trách. Khi học với thầy Nghinh và cô Trâm thì trường nam tiểu học đã chính thức dời về trụ sở trước cửa hữu cổ thành Quảng Trị, gần nhà thầy Tôn Thất Dương Thanh (bấy giờ là Trưởng Ty Tiểu học vụ của Tỉnh). Thầy Thanh có cô con gái dễ thương cùng học một lớp với tôi là Tôn Nữ Quỳnh Tư (hiện định cư tại Pháp).

Cô Đinh Thị Kim Trâm và thầy Bùi Thúc Nghinh đều là những nhà giáo tốt nghiệp trường Giáo sinh Sư phạm Huế. Tôi nhớ nhiều đến thầy Nghinh vì ngoài giờ học ở trường, tôi còn sinh hoạt trong gia đình Phật Tử Quảng Thiện mà thầy là một trong các huynh trưởng của chúng tôi. Cô Kim Trâm, chúng tôi nhớ rất nhiều vì hồi đó chúng tôi là lớp học trò đầu tiên khi cô chính thức trở thành cô giáo. Cô Trâm hồi đó rất xinh đẹp và học trò rất thương yêu cô. Cứ mỗi lần tan học vào buổi chiều, các bạn trong lớp tự động đi theo bảo vệ cho đến khi cô về đến nhà trọ vì sợ cô bị lính tráng Lê dương (lính Pháp) chọc ghẹo giữa đường. Trong lớp học của cô, tôi và anh Nguyễn Văn Phước (sau này là Thiếu tá trong QLVNCH, hiện ở tại thành phố Seattle ở bang Washington) thường cứ thay nhau đứng đầu lớp vì thế cô nhớ đến chúng tôi rất nhiều. Hiện cô đang ở với phu quân là kỷ sư Tôn Thất Ngọ tại vùng San Francisco. Tôi có dịp gặp lại cô lần đầu sau gần nửa thế kỷ trong dịp họp mặt Đồng hương Thừa Thiên, Huế nhân dịp Xuân Bính Tuất (tháng 2/06) vừa qua. Thật là cảm động biết bao khi gặp lại cô giáo đã dạy dỗ mình suốt năm lớp nhất, một tuần 5 ngày mỗi ngày 6 tiếng trong suốt 9 tháng trường của niên học 1953-1954. Nhiều học trò cũ của cô như nhà văn Nguyễn Chí Kham (ở Nam Cali), như Phước ở Seattle, hay ở xa như Nguyễn Ngọc Đá (bây giờ đổi lại là Nguyễn Ngọc Túc) tận bên Uc Châu xa xôi cũng thường gọi điện thoại về thăm hỏi sức khỏe của cô. Tình thầy trò của những năm tháng ấy sao mà thắm thiết vậy!

Năm 1954 mùa hè năm đó chúng tôi đã đỗ rất cao trong kỳ thi văn bằng tiểu học (hết cấp 1 nói theo hệ thống giáo dục hiện nay) khiến cô giáo Kim Trâm vô cùng hãnh diện. Tiếp đó, chúng tôi tham dự kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất trường Trung học Nguyễn Hoàng niên học 1954- 55 cùng với rất nhiều sĩ tử các quận huyện và các trường tư thục trong tỉnh.

Năm 1954 cũng là năm ký hiệp định Genève (20-7-54) chia đôi đất nước Việt Nam với con sông Bến Hải làm ranh giới.  Dạo đó, dù còn nhỏ nhưng chúng tôi đã cảm thấy có cái gì mất mát lớn lao trong thực trạng chia cắt của quê hương. Dòng người di cư đổ vào thành phố nhỏ bé Quảng Trị ngày càng đông và phải chia nhau ở các trại tạm trú tại sân vận động. Rất nhiều con em của các gia đình di cư này cũng dự thi vào lớp đệ thất Trung học Nguyễn Hoàng năm đó và anh Nguyễn Văn Thưởng (nhà thơ Chu Vương Miện) là bạn cùng học với tôi ở trong số này. Sau khi thi xong chúng tôi chờ đợi giờ đọc tên “bảng vàng” mà lòng như lửa đốt và rồi kết quả như chúng tôi kỳ vọng, anh em chúng tôi đều trúng tuyển với thứ hạng cao nhất toàn tỉnh.

Niềm sung sướng và tự hào tràn dâng trong con tim , chúng tôi nhìn về một tương lai rạng rỡ trên cuộc hành trình chiếm lĩnh tri thức mà bảy năm trung học trước mặt là mốc giới phải đạt tới. Và một mùa hè sung sướng của tuổi thơ đi qua với biết bao kỷ niệm tuyệt vời. Rồi mùa thu đến, mùa tựu trường của biết bao con tim đang rạo rực mong chờ.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức với những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường ...”. Cảm ơn nhà văn Thanh Tịnh đã diễn tả lại cảm tưởng ngày tựu trường quá tuyệt vời đến nỗi thế hệ chúng tôi không ai mà không thuộc hết đoạn văn đầy xúc động này trong những tháng ngày của tuổi hoa niên...Thế là tôi đã bước vào một ngôi trường lớn hơn, trường Trung học Nguyễn Hoàng,  tên của vị chúa khai sáng vương triều đầu tiên của dòng họ Nguyễn trên đường Nam tiến...

Lê Đình Cai

Trích tứ cuốn KHÚC QUANH ĐỊNH MỆNH 
Sách khổ 5.5 x 8.5 dày 320 trang do Đăng Trình xuất bản tại California,USA
Một cuốn sách rất lý thú cho người cùng trang lứa để nhìn về kỷ niệm một thời, cho lớp trẻ hơn để có dịp tìm hiểu, so sánh và học hỏi. 
Sách có bán online trên Amazone, ai cũng có thể order chỉ cần bấm vào đường link:

https://www.amazon.com/Kh%C3%BAc-Quanh-%C4%90%E1%BB%8Anh-M%E1%BB%86nh-Vietnamese/dp/138752450X/ref=sr_1_1?crid=HC40ZDECZW27&keywords=kh%C3%BAc+quanh+%C4%91%E1%BB%8Bnh+m%E1%BB%87nh&qid=1670634432&sprefix=kh%C3%BAc+quanh+%C4%91%E1%BB%8Bnh+m%E1%BB%87n%2Caps%2C227&sr=8-1

Trân trọng giới thiệu,
BBT/QT/ Bắc Cali