Hộ Tống Hạm Chí Linh Và Tôi, Những Ngày Biến Động - Đào Dân
bút ký
(ngày 4
tháng 3 năm 2023)
Nhiều năm nay tôi thường thức giấc nửa khuya. 12 giờ, 1 giờ hay 2 giờ sáng. Có khi ngủ lại được nhưng cũng có khi không. Đêm qua, tôi lại thức giấc gần 2 giờ sáng. Cố ngủ lại nhưng vẫn không tài nào, bởi những hình ảnh của buổi gặp gỡ trưa hôm qua, giữa các sĩ quan cũ thuộc HQ11 với hạm trưởng Vũ Hữu San, đã khuấy động dòng tâm tư vốn đã sôi nổi của mình và những chuyện xưa tích cũ của những ngày trẻ trung, vui vẻ và cả sôi động vào thời điểm ấy hiện về rõ ràng, từng nét, đã lôi tôi tuột về quá khứ của những ngày đầu năm 72 của thế kỷ trước, để thấy mình trẻ lại, tươi tỉnh lại như buổi gặp gở trưa hôm qua.
Hồi đó tôi vừa tốt nghiệp khóa 12 căn bản chiến tranh chính trị ở trường CTCT Đà Lạt. Trở về đơn vị cũ là Hộ tống hạm Chí Linh HQ 11, tôi được Hạm trưởng bổ nhiệm làm xử lý thường vụ Hạm phó của chiến hạm. Lúc đó, tàu đang đậu ở cầu D, nằm trong địa phận của Hải quân công xưởng, là cơ xưởng để sửa chữa lớn nhỏ cho tàu bè thuộc lực lượng Hải quân Việt Nam. Vừa được làm hạm phó chưa được mấy ngày thì Hạm trưởng là thiếu tá Trần đình Hòa được điều động về đơn vị khác, và Hạm trưởng mới là thiếu tá Vũ hữu San phải cả tháng sau mới tới nhận nhiệm vụ, do đó tuy tôi chỉ là hạm phó tạm thời nhưng lúc đó tôi và những sĩ quan trên tàu cảm thấy thoải mái như chưa bao giờ.
Đó cũng là thời gian khóa 21 sĩ quan Hải quân Nha trang vừa ra trường được mấy tháng, rồi dồn dập các khóa OCS du học 6 tháng ở Hoa kỳ tốt nghiệp trở về,
nên trên tàu lúc đó từ con số chỉ năm ba sĩ quan trước đó mấy tháng, đã tăng lên gấp hai gấp ba. Tàu đang đậu ở bến để sửa chữa nên không có phiên hải hành, và mỗi buổi sáng trong
phòng ăn, số sĩ quan tập họp trước khi đi làm việc đông đến không còn đủ chổ ngồi để uống cà phê. Toàn là những sĩ quan trẻ, độc thân vui tính, từ cấp chuẩn úy đến to nhất là trung úy. Tôi là người già nhất cũng chỉ vượt qua con số 25 tuổi mấy tháng mà
thôi. Rồi buổi trưa, trừ những
người có nhà để về ăn trưa ở Sài Gòn, còn
ngoài ra ở lại ăn cơm chung của
nhà bếp. Rồi nói cười, rồi cãi vã,
domino, cờ tướng ầm ỷ như một
phiên họp chợ.
Vì là hạm phó và cũng là trưởng ban trọng pháo nên tôi thường lên các phòng ban của Hải quân công xưởng để liên hệ công việc và cũng lợi dụng thời gian rảnh rỗi nói chuyện và tán tỉnh cô M, một thư ký đang làm ở đó để bắt đầu cho một mối tình nhẹ nhàng và để lại những kỷ niệm vui buồn khó quên. Và một sĩ quan khác, sĩ quan cơ khí, người gốc Huế cũng có quen một cô tên N. Không biết tình cảm hai người kia đến đâu, nhưng hai đứa chúng tôi cũng có vài lần cùng rủ hai cô đi dạo phố, vài lần đi xi nê...
Cho đến một hôm tôi gặp H. ở cổng ra vào của Hải quân công xưởng thì mọi chuyện khác hẵn. H vốn là con gái một bà chủ quán cơm người Huế ở gần chợ Tân Định mà tôi đã từng có dịp nói chuyện khi đến ăn trưa. Lúc đó H chỉ là một cô
nữ sinh hiền hòa, vui vẻ, hay nói hay cười. Lúc nào cũng
chú chú cháu cháu, giọng Huế ngọt như mía lùi. Nước da trắng, mái tóc dày và uốn lên ngang cổ úp lấy khuôn mặt trắng tròn và cũng hơi thấp nên đi xa
trông như một tai nấm biết đi. Khi bất ngờ gặp nhau, H mừng rở kêu lên: Chú Dân, chú Dân. Hai chú cháu đứng lại bên đường nói chuyện một hồi. Cô cho biết, sau khi thi rớt tú tài 2, cô xin vào làm công nhân quốc phòng và được điều động về làm ở công xưởng này với tư cách một thư ký. Từ đó, mỗi buổi trưa, H. rủ mấy người
bạn, trong đó có cả N và M xuống thăm tàu, đem cơm vô tàu cùng ăn chung với các sĩ quan
trẻ trong phòng ăn sĩ quan. Giữa buổi trưa trời nắng gắt, trên sàn tàu
bỗng xuất hiện những
tà áo dài đủ sắc màu phất phới bay trong làn gió nhẹ không những làm các nhân viên chiến hạm tròn mắt( vì là chuyện xưa nay hiếm) mà một số thủy thủ trên các tàu bên cạnh cũng cảm thấy thích thú. Còn những buổi trưa trong phòng ăn của chúng tôi thì rộn rã tiếng cười, tiếng nói, át hẳn cả tiếng rì rào của chiếc máy lạnh đặt nơi góc phòng.
Và thức ăn những hôm đó đối với mọi người dường như được thêm nhiều gia vị.
Nhưng những ngày vui cũng
chẵng được bao lâu, khi Hạm trưởng và Hạm phó lần lượt được bổ nhiệm về nắm chiến hạm giữa khi cuộc chiến mùa hè đỏ lửa đang xảy ra khắp nơi trên bốn vùng chiến thuật, gieo rắc đớn đau khổ ải cho dân lành, gây biết bao chết chóc thương tật cho những người lính trẻ ở cả hai miền nam bắc. HQ 11, sau khi hoàn tất việc sửa chửa, tàu chúng tôi sẵn sàng lên đường, ra khơi vượt sóng gió đi
làm nhiệm vụ của những người
trai thời loạn.
Chuyến hải hành đầu tiên ra Đà Nẵng với Hạm trưởng Vũ Hữu San dễ chịu hơn so với chuyến công tác cuối cùng vào năm trước, trước khi tôi rời tàu lên Đà Lạt học. Còn nhớ chuyến đi đó, tàu vừa ra khỏi biển Vũng tàu, rẽ trái đi vào vùng đánh cá Phan thiết. Biển động mạnh, cấp 3.
Gió giật cấp 4 cấp 5. Tàu lắc lư như chiếc lá trôi nổi giữa biển khơi mênh mông. Lúc
đó vào khoảng 9 giờ tối, trong màn đêm dày đặc, những làn sóng bạc đầu ôm chầm lấy thân tàu làm phát ra tiếng kêu nghe răng rắc như thử tàu sắp vỡ. Rồi những luồng nước
biển hung hản thi nhau đổ chụp xuống tàu, văng
lên tới mặt kính trước của đài chỉ huy cao chót vót. Cả một đài chỉ huy vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió thổi ào ào ngoài trời và bên trong thì tiếng nôn ọe phát ra liên tục, từ anh hạ sĩ đứng quan sát với cái ống nhòm đeo trên cổ đang đứng gục đầu trên thành tàu đến anh thủy thủ nhất mệt mỏi ôm chiếc la bàn và cái loa chuyền mệnh lệnh xuống phòng lái ở ngay phía dưới. Cả tôi cùng anh sĩ quan phụ tá cũng liêu xiêu như người say rượu, vật vã theo với từng cơn sóng dập vùi. Riêng tôi, phải cố hết sức làm tròn
trách nhiệm của một sĩ quan
trưởng phiên là định được điểm đứng của tàu để xem tàu có đi chệch ra ngoài hay
không, có gì nguy hiểm không. Nhất là khi tàu
đang đi giữa một rừng đèn dày đặc đang lấp loáng vì sóng dồi của những chiếc thuyền đánh cá của ngư dân. Lỡ mà đụng vào một chiếc trong đó thì cuộc đời hải nghiệp kể như tàn. Cho nên dù mệt đến muốn chết vì ói lên ói xuống cũng phải căng mắt mà nhìn vào bóng tối mịt mùng của đêm đen, phải xuyên qua làn sóng nước dày đặc đang che lấp tầm nhìn, phải đo các đối vật trên bờ rồi đi vô phòng hải đồ, từ đó tìm vị trí chính xác
của tàu. Ngay cả việc ghi sổ hải hành, là công việc của anh hạ sĩ giám lộ, mình tôi cũng phải cáng đáng
khi anh ta đang ôm lấy cái xô rác để ói, rồi lả người trên đó. Dù tôi có ói đến mật xanh mật vàng, hay có rống lên như con bò bị chọc tiết thì vì danh dự của một sĩ quan hải quân, nên" nhiệm vụ phải hoàn thành" bằng mọi giá.
Vừa cập bến Đà Nẵng chưa được mấy tiếng, tàu đã nhận lệnh từ bộ chỉ huy vùng 1 là phải chuẩn bị thức ăn, nước uống, dầu nhớt... đầy đủ cho một chuyến công tác một tuần ở vùng biển Quảng trị, nơi các đơn vị bộ binh đang rút quân về phía nam. Tàu ra tới biển Cửa Việt là vào khoảng 9 giờ đêm. Hạm trưởng Vũ Hữu San nhận được lệnh cho tàu chạy thẳng ra Hòn Cọp ở ngoài bờ biển huyện Vĩnh Linh tác xạ quấy rối rồi quay về. Ông đã phải tắt hết đèn đuốc, âm thầm lặng lẽ lướt sóng ra đi
mà tôi có cảm tưởng như chuyến đi của một Kinh Kha thời hiện đại. Sáng ra lên phiên, tôi nhìn thấy xung quanh mình, trên vùng biển nhỏ hẹp của Cửa Việt đã có sự hiện diện của 4 khu trục hạm của Mỹ đang chạy lòng vòng để yểm trợ cho Quảng trị khi cần thiết. Nhìn vô tấm hải đồ, những cái tên quen thuộc như Ngô Xá, An Thái nghe thân thương. Tuy đã
nhiều lần tàu đã bắn vô bờ mà nghe lòng nhức nhối, không biết đồng bào mình có ai bị tử nạn vì lạc đạn hay không? Nhưng biết làm sao,
mình chỉ là một con ốc vít trong guồng máy chiến tranh đang quay cuồng, mà dù không muốn nhưng những kẻ cuồng tín đâu có buông tha
vì giấc mộng nhuộm đỏ miền
nam! Và dân lành cũng là những người sẽ gặp khổ nạn bên cạnh những người lính. Như đã gặp phải khổ nạn như thế ở đại lộ kinh hoàng, mà thế giới phải cúi mặt lắc đầu cho sự bạo tàn ghê gớm của cộng sãn. Và người dân Huế cũng đã từng bị khổ nạn với năm ngàn người bị giết vào tết Mậu thân năm
1968!
Trở về Đà Nẵng nghỉ ngơi sau một tuần đầy khó khăn ở vùng biển Quảng trị. Ba ngày sau lại tiếp tục lên đường vào Bình Định thuộc vùng 2 để yểm trợ cho việc di tản một
trung đoàn bộ binh bị đánh tan tác
ở quận Hoài Nhơn, đưa về Thị xã Quy Nhơn để bổ sung quân số và tái trang bị. Dương vận hạm Cam Ranh HQ 500 thì vô gần bờ hơn để đưa du-du vô rước. Giữa một bải biển trắng xóa, những người lính từ trong bờ hiện ra trông như những hình nhân di động và tuy chỉ qua ống nhòm, tôi cũng
tưởng tượng đến nỗi
sung sướng của từng khuôn mặt khi ra đến bờ biển để nhìn thấy hai chiến hạm Hải quân đang chờ đợi họ. Rồi từng đợt từng
đợt những chiếc du du trên HQ 500 tiến vào bờ biển để đưa họ về tàu, trong khi HQ 11 thì đang nả từng loạt đạn đại bác 76.2 ly lên vùng
sâu trong đất liền để yểm trợ việc rút quân theo sự hướng dẫn của vị chỉ huy
trung đoàn.
Có khi chúng tôi còn dùng đại bác phòng không 40 ly để tác xạ những điểm gần theo yêu cầu. Qua máy truyền tin PRC 25, chúng tôi nghe được tiếng hoan hô của những quân nhân bộ binh khi thấy đạn 40 ly nổ chụp trông như pháo hoa vào buổi bình minh mà mặt trời vừa ló dạng.
Tôi không nhớ HQ 11 được biết phái cho tiểu khu Quãng Ngải bao lâu. Nhưng
chắc chắn rất nhiều lần
đã tác xạ vào vùng cận sơn, bằng đại bác 76.2 ly.
Chỉ một lần người ta yêu cầu một vùng rộng lớn khu núi rừng cận duyên là mũi Battangban, nhìn ra ngoài khơi là Cù lao Ré. Hạm trưởng San không bắn vào ban ngày, mà vào ban đêm, chiến hạm tắt hết đèn đóm rồi âm thầm di chuyển vào gần bờ, chỉ cách bờ dưới 1 hải lý, rồi vừa chạy dọc theo bờ vừa dùng đại bác 20 ly bắn liên thanh
vào điạ điểm được yêu cầu. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong Hải quân VN, có một vị Hạm trưởng lại dùng đại bác 20 ly phòng không để bắn yểm trợ. Từng loạt đạn
xé gió đi vào bờ nghe như những tràng pháo
liên thanh giữa màn đêm tịch mịch.
Khi hết thời gian công tác ba
tháng ở vùng 1, chúng tôi lại về bến ở Sài gòn để tu bổ bảo trì chiến hạm. Nhất là bổ sung đạn dược, thay thế những bộ phận hư hỏng hay hao mòn. Cùng lúc Cổ thành Quảng trị được quân ta tái
chiếm thì tôi lại nhận đươc lệnh thuyên chuyển về Hải Đội 5 duyên phòng, căn cứ đóng tại Năm Căn. Nghe đến vùng đất lưu đày Năm Căn với nước mặn đồng chua, với muỗi mòng nhiều như trấu, tôi cũng có chút nghi ngại. Nhưng với tuổi trẻ và bản tính mau quên, tôi như con chim hải âu, cứ vô tư vổ cánh bay theo tiếng gọi của tổ quốc.
Trước khi đi xuống Năm Căn nhận nhiệm vụ mới, tôi xin Hạm trưởng hai tuần đi phép để ra miền trung dò hỏi tình hình gia đình. Nhân dịp này tôi đã đưa được mẹ già, hai mẹ con người chị vô Sài Gòn,
lên sống cùng chị Anh ở khu Sóng Thần, Thủ Đức. Công việc gia đình yên ổn, tôi chính thức giả từ tàu HQ 11
thân thương với gần hai năm phục vụ để bắt đầu cho một hành trình mới của cuộc sống hải hồ như đã từng mơ ước thời còn niên thiếu, cái thời bị ám ảnh bởi những nhân vật lang bạt kỳ hồ mỗi khi đọc truyện phiêu lưu nơi
vùng sóng nước biển khơi.
Đào Dân
viết xong sáng thứ sáu, ngày 17 tháng ba năm 2023
