Họ Hồ Ở Nước Ta - Hoàng Long Hải
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu thì nở ra dòng liu
điu./
1
Chim bay trên trời chim còn có tổ
Cháu nội nói: "Ông nội, khi mình vô quốc tịch, người
ta cho mình đổi tên họ. Cháu nghĩ cần thì mình nên đổi tên, không nên đổi
họ."
- "Đúng." Ông nội trả lời. "Người Châu Âu
đến Mỹ cũng vậy. Thành ra, nhiều khi chỉ cần nghe cái họ, mình biết nguồn gốc:
Gốc Anh Cát Lợi, gốc Pháp, Đức....
- "Không ông nội à. Cháu có học một lớp, tụi nó toàn
tên là Smith. Thằng thì Church Smith, thằng thì Bridge Smith, thằng thì Hill
Smith... kỳ ghê.
- "Kỳ gì đâu. Đó là những thằng Mỹ "lưu
linh lạc địa". Bên Châu Âu, sau những biến cố trọng đại, loạn ly,
đói khổ... như sau các trận Thế Giới Chiến Tranh chẳng hạn. Dân Châu Âu bò qua
Mỹ kiếm ăn. Cháu đọc "Giờ Thứ hai mươi lăm" thì rõ. Thằng Moritz
chẳng hạn, hai bàn tay trắng, tính qua Mỹ kiếm ít tiền rồi lại về quê cũ cưới
vợ."
- "Ông nội giải thích sao về hiện tượng trên, nhiều
thằng tên là Smith?"
- "Hồi xưa, đầu thế kỷ hai mươi chớ đâu xa. Tàu thủy
bên Châu Âu đến cảng Nữu Ước, có quan thuế xét cho lên bờ, nhập vào Mỹ, chỉ cần
cho quan thuế biết mình có một số tiền là được. Chẳng cần giấy tờ gì cả."
- "Ông nội nói sao. Cháu chưa rõ.
- "Ví dụ khi qua cửa Quan thuế, trình cho họ thấy mình
có một số tiền, ít nhất bằng số tiền Quan Thuế yêu cầu, chứng minh mình có thể
sống được bao nhiêu ngày đó, khi chưa có việc làm. Chỉ có vậy thôi. Không cần
giấy tờ gì cả."
- "Vậy những cái tên Smith?"
- "Di dân bên Châu Âu qua, đủ hạng, phần đông khố
ách áo ôm, tha phương cầu thực, bỏ nhà ra đi có một mình, dốt, không biết
tiếng Anh, tiếng u gì cả. Kiếm được việc ở địa phương, hoặc theo các đoàn xe
ngựa đi về miền viễn Tây, đi đào vàng, đi từng đàn, từng lũ... Rồi tụ họp nhau
lập xóm, lập làng, như người ta thường thấy trong phim Western vậy. Họ có tên
Đức, vì gốc Đức, tên Áo vì gốc Áo... Nhiều cái tên khó đọc, mà ngay chính họ
cũng không biết chữ, không biết viết tên mình như thế nào, nên khi ai hỏi tới,
cứ nói mẹ cái tên Mỹ Smith cho xong, tên nầy phổ thông ở Mỹ, ai ai cũng Smith
cả. Đến khi có một dịp nào đó, bầu cử chẳng hạn, phải làm giấy tờ, danh sách,
thì phải khai với chính quyền họ và tên. Tên thì có rồi: Smith, nhưng họ là
chi, giống như Lục Vân Tiên hỏi Kiều Nguyệt Nga vậy: "Quê đâu tên
họ là chi? Khuê môn phận gái việc gì tới đây?" Mấy anh Smith bối
rối không biết mình lấy họ gì? Người phỏng vấn hỏi: "Vậy thì nhà anh ở
đâu?". "Tui ở gần cầu". "Vậy thì tên họ là Bridge
Smith". "Tui ở gần nhà thờ". "Vậy thì tên họ
là Church Smith". "Tui ở gần nhà máy". "Vậy
thì Mill Smith." Dễ dàng thôi."
Cháu nội nói: "Cháu có cảm tưởng như có cái gì buồn
cười, mai mỉa."
- "Chớ gì. Đây là câu chuyện hài, người Canada chê
người Mỹ." Tôi nói.
- "Người Canada tự hào về nguồn gốc của họ hơn, thượng
lưu, trí thức, cao cấp hơn người Mỹ?"
- "Có gì khác?"
- "Có chứ. Khi Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai nổ ra, dân
Anh, Dân Pháp chạy giặc qua Canada nhiều lắm. Họ thuộc hạng giàu có, học thức.
Ngay chính ở nước họ, họ cũng đã ở giai cấp trên của xã hội bên đó rồi, nên họ
coi thường người Mỹ, nguồn gốc không như họ.
- "So với di dân bây giờ, ông nội thấy sao?"
- "Thấy sao hả? Cũng vậy thôi. Ông nội lớn lên trong
cảnh nghèo. Cha ông nội đi kháng chiến mà qua đời, anh cả ông nội vì chống Tây
mà bị Tây thủ tiêu, chị Cả ông nội chạy tản cư bệnh mà chết. Thành ra một mình
bà cố xoay xở nuôi sáu đứa con. Bà cố thường tự an ủi bằng câu "Có
ai giàu ba họ, có ai khó ba đời."
2
Có tên không họ, có họ không tên
- "Cháu biết không, người Việt
mình ban đầu, khi mới xuống định cư ở lưu vực sông Nhị Hà, cũng chỉ có tên mà
không có họ." Tôi nói.
- "Có phải đó là văn hóa thời
cổ."
- "Ông nội có xem một
"clip", có một "làng Thượng" nào đó, gần đường 9 với Lao
Bảo, sát biên giới Lào/ Việt. Làng nầy thuộc người "Tà Ôi"
hay "Vân Kiều" gì đó. Mọi người trong làng chỉ có tên, không có họ.
Khi cán bộ Việt Cộng đến hoạt động, cần có tên họ, Việt Cộng khuyến dụ dân làng
nên lấy họ của "bác". Dân làng nghe theo, thành ra ai cũng họ Hồ cả.
Cả làng đều họ Hồ.
- "Ông nội nói người Lạc Việt
ngày xưa không có họ?".
- "Ngay cả một số người Tàu ở bên
Tàu cũng vậy." Tôi nói.
- "Vậy sao bây giờ ai cũng có
họ?"
- "Bởi vì khi Tàu qua cai trị,
lập sổ sách gì đó, buộc người dân phải có họ. Có hai hạng người, để ông nội
giải thích: "Thứ nhứt là những người Tàu di dân, đi theo người Tàu sang
Việt Nam cai trị, làm ăn, rồi định cư ở nước ta. Theo phong tục Tầu, họ có cả
tên lẫn họ. Thành phần thứ hai, là những người Lạc Việt không có họ thì phải
mượn họ của người Tàu mà khai báo. Thành ra, gần như hầu hết họ của người Việt
ta ngày nay, có họ Tàu do vay mượn họ của người Tàu."
- "Họ Hoàng của mình thì
sao?"
- "Dựa theo lịch sử như nói như
ở trên, họ Hoàng cũng có hai trường hợp. Một là họ Hoàng từ bên Tàu
mang sang qua Việt Nam. Hai là, tổ tiên chúng ta là người Lạc Việt chính cống,
không có họ nên mượn họ Hoàng của người Tàu.
- "Thành ra những nhân vật trong
lịch sử Tàu như Hoàng Cái, Hoàng Đình Công... có thể là tổ tiên chúng ta, mà
cũng không hẳn. Có thể ông bà chúng ta ngày xưa, không có họ nên mượn cái họ
Hoàng của người Tàu.
- "Các sắc tộc ở vùng cao thì
sao?"
- "Những sắc tộc ở gần biên giới
Hoa/ Việt thì chung một giống cả. Ví dụ người Hmong, bên kia biên giới Tàu cũng
có, bên phía ta cũng có, bên Lào cũng có. Xa hơn một chút về phía Nam,
"người miền núi", như người Mường Hòa Bình, Mường Thanh Hóa... chính
họ là người Lạc Việt. Khi người Tàu xâm lăng, cai trị người Lạc Việt, họ không
chịu sống dưới ách đô hộ của người Tàu, bèn kéo nhau lên rừng mà ở.
- "Họ cũng không có họ?"
- "Có lẽ hồi mới lên rừng định cư
mà thôi. Về sau, do tình hình xã hội, chính trị, họ cũng phải kiếm tìm đâu đó
một cái họ mà ghép với cái tên của mình".
- "Ông nội cho một ví dụ được
không?"
- "Được chứ. Nhà thơ Huy Cận
chẳng hạn. Gốc gác ông là "người Mường Thanh Hóa." Họ Cù là họ kiếm
đâu đó, thành ra Cù Huy Cận, dòng dõi bà Cù thị hay ai đó,
"Cù léc" cũng không chừng."
Tôi nói tiếp: "Họ Hoàng mình xuất
phát từ bên Tàu hay từ người Lạc Việt gánh thêm cái họ Tàu thì ông nội không
biết, gốc gác ở làng nào, tỉnh nào cũng không biết. Gia phả chỉ nói năm 1558,
khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, đem theo binh lính, quan quyền, bà
con họ hàng, dân chúng... thì trong số đó có một người đàn bà có 4 người con
trai. Người mẹ và tất cả 4 người con trai đều biết nghề rèn. Chúa cần người có
nghề rèn để rèn binh khí hay dụng cụ nông nghiệp... cho Chúa. Bốn người con
trai sau nầy trở thành 4 người trưởng của 4 nhánh: Như, Văn, Đăng, Thế của họ
Hoàng. Bốn người nầy cùng xây một ngôi chùa cho bà Mẹ. Đó là Chùa Hiền
Lương ở làng Hiền Lương. Chùa có bốn trăm năm tuổi, còn nguyên trạng,
có thể trở thành di tích Quốc Gia.
3
Ngộ ở pên Tàu...
- "Ông nội nói rộng ra các họ
khác".
- "Không cần có thống kê, người
ta biết họ lớn nhất của người Việt là họ Nguyễn, khoảng một phần ba dân số. Thứ
đến là họ Lê, họ Trần. Còn các họ khác như họ Hoàng, họ Hồ, họ Phan, họ Võ, -
ngoài Bắc thì gọi là Vũ - thì sĩ số sàn sàn ngang nhau. Một ít là họ Tàu, mới
sang Việt Nam thời "Phản Thanh phục Minh" như họ Lữ, - của ông tướng
Lữ Lan - tức Lữ Mộng Lan -, họ Châu, họ Hồng còn gọi là Cung như ông Cung Giũ
Nguyên, Hồng Giũ Châu, họ Mạc như Mạc Cửu, họ Lâm như thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn
Phát... Họ Mạc của ông Mạc Cửu với họ Mạc của ông Mạc Đăng Dung có cùng gốc gác
với nhau không thì chính cô ca sĩ Mạc Thủy ở Hà Nội hay Mạc Thị Bưởi chắc chi
đã biết. Mấy ông mà ông nội kể tên đều là những người có tiếng tăm hồi trước.
Một số tha phương cầu thực như họ Quách - Quách Đàm; họ Diệp như ông cố của
Tyler Diệp, họ Quan có khi là Quang, họ Ôn. Như Quách Đàm, khi mới qua Việt
Nam, hai đầu gánh đựng hai cái bồ "chai ve bán
không". Vậy mà sau nầy giàu có đến ức triệu, bỏ tiền xây Chợ Lớn
mới. Đặc biệt, một số hải tặc, nổi tiếng trong vùng "Quần đảo Hải
Tặc" hồi mấy thế kỷ trước, gốc ở đảo Hải Nam bên Tàu, sau khi
giải nghệ, không dám về cố quốc, định cư ở Miền Tây Nam Bộ, phần nhiều ở Rạch
Giá, Hà Tiên. Họ có họ Phan, họ Dương, lấy vợ Miên, đẻ ra người Miên lai Tàu,
dân địa phương gọi là "đầu gà đít vịt", nhiều cô đẹp
lắm.
Cũng có một vài trường hợp, giàu có,
đem tiền qua Việt Nam làm ăn như hai họ Phan ở Quảng Trị và Huế. Một họ Phan
gốc Hải Nàm, một họ Phan gốc Quảng Đông.
Nói chung, người Tàu sang Việt Nam vì
chạy loạn chính trị, di cư vì sinh kế, di cư để kinh doanh sang nước ta đông
lắm. Dần dần, họ bị "Việt hóa", thành người Việt Nam, nếu cho về Tàu,
chắc họ cũng không về, trở thành những người Việt Nam chống Tàu,
làm vua, làm quan to ở nước ta, nắm lấy nền kinh tế của nước ta, ở địa phương
cũng như ở trung ương, cả làm vua nữa. Ở Nam bộ, mỗi xã, một ấp nhỏ, cũng có
một tiệm hay quán "chạp phô" của người Tàu.
- "Ai làm vua, ông nội?"
- "Họ Trần, ông Trần Thủ Độ và
các ông vua nhà Trần. Công lao các vua Trần chống quân Mông Cổ là lớn lắm, cả
thế giới hồi đó điều phục, không riêng gì người Đại Việt.
- "Nguyên Mông là người Mông Cổ,
đâu phải người Tầu." Cháu nội nói.
- "Mông hay Tầu gì đều đánh hết.
Lê Lợi chống quân Minh cũng vậy. Quang Trung đánh tan hai mươi vạn quân Thanh
thì "cũng rứa thôi".
- "Nhà Trần gốc bên Tàu?"
Cháu nội hỏi.
- "Linh mục Nguyễn Phương giáo sư
Đại Học Huế, có giảng cho sinh viên chứng chỉ sử học rằng thì là tổ
tiên Trần Thủ Độ từ bên Tàu qua Việt Nam mới có ba đời. Bài giảng của linh mục
Phương sau in lại trong tập san Đại Học của Viện Đại Học Huế và tạp chí Bách
Khoa.
Gia phả họ Trần do Trần Ích Tắc ghi
lại thì thủy tổ họ Trần gốc người Mân Việt, một trong Bách Việt, ở đất Mân bên
Tàu, nay thuộc tỉnh Phúc Kiến. Trần Tự Minh là tướng của Tần Thủy Hoàng, sau bỏ
Tần Thủy Hoàng di cư về phương Nam, theo người Lạc Việt, rồi làm tướng cho An
Dương Vương. Con cháu nối dõi, làm vua, làm quan ở nước ta.
- "Nay còn ai?" Cháu nội
hỏi.
- "Còn ai thì không biết. Nhiều
họ Trần còn gia phả, có họ Trần thì không. Trước 1975, ở Miền Nam có chủ trương
nghiên cứu gia phả thành một ngành gọi là "Gia Phả Học". Ngành nầy
rất kỵ với "Chủ Nghĩa Mác" nên từ khi Quân của
"Bác" chiến thắng ở miền Nam thì đề tài nầy không còn
nghe nói tới nữa.
4
"Chàng về Hồ thiếp cũng về Hồ,
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây."
- "Họ Hồ ở nước ta có gì khác
không?"
- "Thời nhà Trần với Trần Thủ Độ,
các vua Trần và "Đức Thánh Trần". Còn như về sau, cũng có người danh
tiếng, nhưng không được như đời Trần nữa. Họ Hồ thì khác, kéo nhau nhiều đời,
liên hệ với nhau, sách sử còn ghi."
- "Cũng gốc bên Tàu?" Cháu
nội hỏi.
- "Thủy tổ họ Hồ ở nước ta là Hồ
Hưng Dật, thuộc bộ tộc Lạc Việt tỉnh Triết Giang bên Tàu, đổ trạng nguyên, sang
làm thái thú Diễn Châu, vào đời Hậu Hán. Đồng thời
có ông Đinh Công Trứ, thân sinh Đinh Bộ Lĩnh làm thứ sử Hoan Châu.
Mấy trăm năm sau, họ Hồ nầy
phiêu tán cả. Có một người hậu duệ Hồ Hưng Dật là Hồ Liêm, làm con nuôi nhà Lê
Huấn, nên họ Hồ đổi sang họ Lê là Lê Liêm. Cháu bốn đời Lê Liêm là Lê Quý Ly,
người cướp ngôi nhà Trần. Lê Quý Ly lấy lại họ cũ của
mình là Hồ Quý Ly. Vì họ Hồ gốc ở nước Ngu bên Tàu, nên Hồ
Quý Ly đổi tên nước là Đại Ngu. Đại Ngu không phải là
"ngu lắm", "ngu vĩ đại" như "đảng vĩ đại" mà có
nghĩa là nước Ngu vĩ đại ở đất Đại Việt. Nó cũng có nghĩa là Hồ Quý Ly còn nhớ
cái "gốc Tàu" của mình, còn muốn đem cái "hơi hay cái mùi Tầu"
mà trùm lên đầu người Lạc Việt. Như thế thì người Đại Việt ủng hộ cha con Hồ
Quý Ly thế nào được. Hồ Quý Ly khôn ở đâu không rõ, nhưng trong việc đặt tên
nước như thế nầy, có thể ông ta không khôn, tức là NGU đấy.
Quý Ly có hai người cô làm cung phi
trong cung vua Trần, nhớ đó mà Quý Ly làm quan cho nhà Trần, lên tới chức tể
tướng. Năm 1400, Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lên làm vua. Được một năm, bắt
chước nhà Trần, ông trao ngai vàng lại cho con là Hồ Hán Thương, lên làm thái
thượng hoàng. Dù vậy, ông vẫn nắm giữ quyền hành.
Ba cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương,
Hồ Nguyên Trừng đều là người tài giỏi cả:
- Hồ Quý Ly có tư tưởng cải cách: Thi
cử thêm môn toán học. Ông là người đầu tiên có sáng kiến làm bạc bằng giấy,
khác với thời đó, tiền đúc bằng đồng.
- Hồ Nguyên Trừng là anh, nhưng không
được làm vua vì mẹ ông thuộc hạng bình dân. Hồ Hán Thương lên nối ngôi vì mẹ
ông nầy là công chúa.
Khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, tôn
thất nhà Trần có người chạy sang Tàu cầu cứu, xin Tầu đem quân qua diệt nhà Hồ.
Ấy là "cõng rắn cắn gà nhà". Bọn Tàu "láng
giếng hữu nghị" chỉ chờ có chừng đó, bèn sai Trương Phụ, Mộc Thạnh đem
quân qua "Phù Trần diệt Hồ". Ba cha con Hồ Quý Ly
cùng nhau lo chống giặc, nhưng bấy giờ dân chúng còn nhớ nhà Trần nên "Giặc
ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở". Lời kêu gọi của cha con họ Hồ
không mấy người nghe, ca dao có câu:
Chàng
về Hồ, thiếp cũng về Hồ,
Chàng về Hồ
Hán, thiếp về hồ Tây.
Hồ Tây tượng trưng cho dân tộc vì đó
là nơi hai chị ̣em bà Trưng tự vẫn, - Hồ Lãng Bạc - chung quanh hồ Tây có nhiều
di tích lịch sử. Thiếp về "hồ Tây" là về với đất nước, dân tộc, còn
"chàng về Hồ Hán" là về với Hồ Hán Thương, là về với cha con nhà Hồ,
là những người cướp ngôi nhà Trần. Cướp ngôi vua là cướp nước, nói
theo quan điểm "Trung quân ái quốc" của người xưa".
Hồ Nguyên Trừng tài giỏi hơn. Ông được
vua nhà Minh trọng dụng, lập được nhiều công trạng, được vua Minh cho làm
"thượng thư bộ Công". Bộ Công tương tự như Bộ Xây Dựng.
Ba cha con Hồ Quý Ly xây "Thành
Nhà Hồ" ở Thanh Hóa, nay di ích vẫn còn, được nhiều người khen ngợi.
5
Lòng dân ở đâu?
Thành Nhà Hồ, còn được gọi là Tây Đô,
Tây Kinh, ở Thanh Hóa, được xây trong vòng ba tháng là xong, được cha con Hồ
Quý Ly dùng để chống quân Minh, vì tình hình lúc đó quân Minh sẵn sàng xâm lược
Đại Việt. Thành được xây bằng đá và đất, nhưng đặc sắc hơn cả là thành được
trồng tre để làm hàng rào ngăn giặc. Ở nước ta, mỗi làng được trồng tre chung
quanh làng, vừa làm hàng rào ngăn ngừa trộm cắp, giặc giã và cả quân xâm lược.
Làng với những hàng tre chung quanh vừa là thành lũy về an ninh, chống giặc...
lại cũng là một "hàng rào" bảo vệ văn hóa làng xã, phong tục tập quán
và cả luật pháp của làng. "Phép vua thua lệ làng" có
ý nghĩa là như thế. Cha con họ Hồ thấy được cái "tinh hoa" của lũy
tre làng như thế nên đã cho trồng tre làm hàng rào ở "Thành Nhà Hồ"
để chống quân Tàu.
Cha con Hồ Quý Ly chuẩn bị chống quân
Minh rất kỹ, tuyển mộ, huấn luyện thêm binh lính, xây đắp thành lũy, Tây Đô và
thành Đa Bang, đóng cọc trên sông... Nhưng thất bại là vì sao? Không phải vì
quân Minh đông hơn, tài giỏi hơn. Binh lính giỏi không cốt ở đông mà cốt ở tinh
nhuệ và tinh thần.
Khi Hồ Quí Ly họp các tướng để bàn
việc nên đánh hay nên hòa, Hồ Nguyên Trừng, lúc đó làm tể tướng nói: "Thần
không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi". Bấy giờ vì
người dân không theo nhà Hồ, nên Hồ Nguyên Trừng mới nói "sợ lòng dân
không theo...". Yếu tố "nhân dân" là
quan trọng nhất. Đó là yếu tố khiến nhà Hồ thất bại, không chống nỗi sự xâm
lăng của quân Minh. Quân Minh cũng biết yếu tố "lòng dân" nên mới
mượn danh nghĩa "Phù Trần diệt Hồ" để xâm lăng nước
ta. Dân chúng nhiều người còn ngu dại nên không cùng nhà Hồ chống giặc Minh, mà
còn "rước voi về giày mả tổ."
Nhân Dân là yếu tố quan
trọng trong mọi lĩnh vực chính trị, văn hóa... của một dân tộc./
6
"Tay cắt tay sao nỡ,
ruột cắt ruột sao đành"
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ
Thuận Hóa. Ban đầu, thế lực chưa đủ mạnh, Nguyên Hoàng chưa dám ra mặt chống
Chúa Trịnh ở Đằng Ngoài. Tới khi công nghiệp đã vững rồi, Chúa Nguyễn nghe lời
của Đào Duy Từ, trả lại sắc cho vua Lê, ra mặt chống nhau với Chúa Trịnh.
Năm 1630, Chúa Nguyễn cho quan ra Bắc,
dâng vua Lê chúa Trịnh. Vật phẩn đặt trên một cá mâm đồng hai đáy. Sau khi sứ
về Nam rồi, chúa Trịnh mới phát hiện cá mâm có hai đáy. Gở cái đáy ra thì thấy
có một tấm thiệp viết:
“Mâu phi
vô dịch
Mịch phi
kiến tích
Ái lạc tâm
trường
Lực lai
tương địch”.
Không ai hiểu là gì, bèn nhờ Trạng Bùng - (Phùng Khắc
Khoan) giải thích cho. Trạng Bùng
xem xong bèn nói đó là bốn câu thơ ngụ ý nói: "Dư bất nhuận sắc", có
nghĩa là ta không nhận sắc. Nghĩa bóng là không chịu thần phục Bắc
Hà nữa.
Vậy là hai bên đánh nhau, tất cả gồm 7 trận, kéo dài khoảng
150 năm. Có khi quân Bắc Hà đánh vô tới Quảng Bình, cũng có khi quân Nam Hà
đánh ra tới Nghệ An. Khi đánh ra Bắc, Chúa Nguyễn thường cho lùa dân vùng bị
chiếm đóng vô Nam Hà khai khẩn những vùng đất còn bỏ hoang. Tình trạng trong
Nam bấy giờ, đất rộng người thưa, cần có dân khai khẩn trồng
trọt...
(trích): Một tài liệu lịch sử ghi:
“Lúc bấy giờ ở huyện Phù Ly, đất
Quy Nhơn có người tên là Nguyễn Nhạc khởi binh (…). Nguyên ông tổ 4 đời của
Nguyễn Nhạc là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly ngày trước, người ở huyện Hưng
Nguyên, đất Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào
ở ấp Tây Sơn thuộc đất Quy Nhơn. Đến đời ông thân sinh là Hồ Phi Phúc dời nhà
sang ở ấp Kiên Thành, nay là làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn, sinh được 3 người
con: trưởng là Nhạc, thứ là Lữ, thứ ba là Huệ”. (hết trích)
Nguyễn Huệ hay Hồ Thơm, chính
là vua Quang Trung, cháu bốn đời của Hồ Phi Khanh là người đến định cư ở
Quy Nhơn.
Tại sao phải lấy
họ Nguyễn?
Người ta thường
nói "đất trong Nam là đất Chúa Nguyễn". Nhờ các chúa mà
đất Nam Hà càng ngày càng phát triển, dân cư ngày càng đông đúc, trù phú... Ai
ai cũng thấy mình mang ơn Chúa. Vì vậy, anh em nhà Tây Sơn mới đổi qua họ
Nguyễn để thu phục lòng dân.
Trong khi ở Nam
Hà họ Hồ càng ngày càng phát triển thì ở Bắc Hà cũng nổi lên một danh sĩ họ Hồ.
Đó là một người đàn bà, nổi tiếng làm thơ Nôm, văn học sử còn gọi là "Bà
Chúa thơ Nôm". Đó là Hồ Xuân Hương.
Bà sinh năm
1772 ở Nghệ An, có tài liệu nói ở Thăng Long, qua đời năm 1822, cũng
ở Thăng Long. Trước khi bà sanh 1 năm - (1771) thì nhà anh em nhà Tây Sơn nổi
lên ở ấp Tây Sơn, nay thuộc Bình Định. Cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn với
Nguyễn Ánh kéo dài 31 năm, khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua năm 1802. Bà mất năm
1822 là năm Minh Mạng nối ngôi cha được 1 năm. Do đó, thời còn nhỏ và thanh
xuân, bà sống rong cảnh giặc giã, ly loạn...
7
"Thương
người xa xứ..."
Tù Côn Đảo mấy
năm, ông Hồ Hữu Tường được tha về, sau khi Ngô triều sụp đổ. Ông là một nhà
văn, một nhà văn hóa, một nhà hoạt động cách mạng theo cánh Trotsky
- (Đệ Tứ Quốc Tế) - nổi tiếng ở miền Nam
nhiều năm, kể từ khi ông du học ở Pháp về. Những năm 1945/ 46 ông không bị cánh
Đệ Tam - (nổi tiếng là Trần Văn Giàu) - giết,
như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà... cũng là may cho ông.
Sau khi tù Côn
Đảo về, ông lại hoạt động trong lãnh vực văn nghệ, văn hóa, giáo dục... Ông
được mời làm giáo sư diễn giảng Đại Học Huế. Ông viết rất nhiều tác phẩm nổi
tiếng hay và lạ. Truyện ngắn "Con thằn lằn chọn nghiệp" được
coi là truyện ngắn hay nhất từ trước tới nay. Khoảng những năm 1964, 65,
66...sinh viên, học sinh, thanh niên Huế rất ngưỡng mộ ông. Ông cùng với con là
Hồ Xích Tử - con đỏ "vùi con đỏ xuống hầm tai
vạ" - (Bình Ngô Đại Cáo) - sau
đổi là Hồ Xích Tú, đều là dân biểu thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng trong thời
gian nói trên, ông cho biết ông là "hậu duệ vua Quang
Trung". Báo chí hồi đó có bức hí họa, vẽ ông ngồi trên con ngựa
gỗ, - thứ đồ chơi của trẻ con -, miệng ông nói: "Ta là hậu duệ vua
Quang Trung đây", có lẽ để chọc quê ông Hồ Hữu Tường. Quê ông ở Cái
Răng Cần Thơ, thuộc nhà nông. Đọc "Thằng Thuộc, con nhà
nông", hồi ký của ông thì rõ.
Nguyễn Ánh bị
quân Tây Sơn đuổi đánh chạy dài không biết bao nhiêu bận, khi Vĩnh Long, khi
Sadec, khi Cà Mau... Không ít lần Nguyễn Ánh chạy tuốt ra Phú Quốc, Côn Đảo...
Lần cuối chạy tuốt qua Xiêm La - Thái Lan bây giờ - Ông để lại cung phi, mỹ nữ
ở Nha Mân - Sadec - Con cháu họ ngày nay cũng còn đẹp:
Gà
nào hay bằng gà Cao Lãnh,
Gái
nào bảnh bằng gái Nha Mân,
Giả
bộ giăng câu lên xuông mấy lần
Ở
xa thì nhớ, lại gần thì run.
Không chỉ ở Nha
Mân, Nguyễn Ánh còn để lại Thới Bình một "mớ" nữa. Chuyện gái đẹp
nầy, có dịp sẽ nói sau.
- "Còn binh
lính Gia Long thì sao?
Họ không theo kịp
Chúa, đành ở lại, "tự giải ngũ", làm người dân thường, sống đời dân
sự, làm ruộng, dựng nhà, cưới vợ...
Sau khi Nguyễn
Ánh lên ngôi, hiệu là Gia Long, ông không còn nghĩ tới những người ông đã bỏ
rơi, hồi hai mươi năm trước, khi ông chạy qua Xiêm La. Người ông
"ngó" tới bây giờ là những người từng theo Tây Sơn. Ông phải ngăn
ngừa họ, trả thù họ, trừng trị họ... Thế là những người từng theo Tây Sơn, trốn
vào Nam, làm lưu dân nơi đất khách quê người. Nơi vùng đất mới, họ
gặp kè thù cũ, là những người bị Nguyễn Ánh bỏ lại khi ông ta
"tẩu quốc". Những kẻ thù cũ gặp nhau, không những không thù không oán
nhau mà lại thương yêu nhau, bởi vì họ cùng một gốc: tha hương. (không theo Chủ Nghĩa Mác, Chủ Nghĩa Hận Thù/ "cách
mạng")
Rồng chầu ngoài
Huế - (Huế, kinh đô, đã
có vua trên ngai vàng.)
Ngựa tế Đồng Nai
- (Con ngựa chạy
chậm rãi, đưa quan đi Việc
cai trị đã ổn định.)
Nước sông xanh ao
lại chảy hoài - (Nước cứ trôi, dòng đời cứ trôi,
người còn lưu lạc...)
Thương người xa
xứ lạc loài tới đây - (Người cũ - binh
lính Nguyễn
Ánh ngày trước, tới trước,
đời sống
nay đã ổn định, thương những lưu
dân mới
tới sau - binh lính nhà Tây Sơn
chạy vào
Nam, sợ bị trả thù.)
Trong viễn tượng
đó, tổ tiên họ Hồ của ông Hồ Hữu Tường, có từ Qui Nhơn chạy trốn vào Cái Răng
cũng không phải là điều lạ.
8
Từ Hồ ra Nguyễn.
Hồ Sĩ Tạo,
1841/1907, quê ở làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đậu giải
nguyên - tức là đậu đầu - trường Nghệ, là danh sĩ đất Hoan/ Diễn Châu. Không rõ
lý do tại sao, Hồ Sĩ Tạo không vào kinh đô thi Hội, ra làm quan một thời gian
rồi xin về. Hồ Sĩ Tạo là người tài hoa. Xứ Nghệ có câu: "Văn
Giao, phú Tạo, thơ Thành", có nghĩa là văn hay thì
có Nguyễn Văn Giao, phú hay thì có Hồ Sĩ Tạo, thơ hay thì
có Nguyễn Nguyên Thành. Cả ba đều là dân Nghệ An. Ông giỏi đàn hát, thích vui
chơi. Khi đã có vợ rồi, ông gian díu với cô Hà Thị Hy, lớn hơn ông 6 tuổi, con
ông Hà Văn Cẩn. Hà Thị Hy thường gọi là Cô Đèn, vì cô ca đã hay mà lại múa đèn
rất giỏi. Khi cô Đèn có bầu, ông Tạo lập mưu gả cô Đèn cho ông già Nguyễn Sinh
Nhậm, 70 tuổi, góa vợ, người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, cùng tỉnh. Mấy tháng
sau cô Đèn sinh ra một con trai, đặt tên theo cha hờ là Nguyễn Sinh Sắc, - sau
đổi thành Nguyễn Sinh Huy -. Huy là cha của Nguyễn Sinh Cung - thường gọi là
Cuông -, còn có tên là Nguyễn Tất Thành, tức là Hồ Chí Minh, cán bộ Cộng Sản
Đông Phương Bộ, thuộc Đệ Tam Quốc Tế, nói rõ hơn là "đệ tử" của
Stalin.
Nguyễn Sinh Sắc,
lấy theo tên "cha hờ" là Nguyễn Sinh Nhậm. Tuy nhiên, thực tế, ông
là con rơi của Hồ Sĩ Tạo. Người đời cũng nói, sau khi về
nước lãnh đạo việc "cướp chính quyền" năm 1945, Nguyễn Sinh Cung lấy
lại họ Hồ - Hồ Chí Minh -, họ cũ của ông ta là vì vậy. Ông Sắc được 1 tuổi thì
mẹ chết. Ông Nhậm cũng về chầu Diêm Vương luôn. Ông Sắc ở với con trai trưởng
của ông Nhậm là Nguyễn Sinh Thuyết, bị bà vợ ông Thuyết đay nghiến hoài vì
"có bà con máu mũ chi mô". Cụ Hoàng Xuân Đường thấy tội nghiệp, đem
về nuôi, dạy dỗ cho, sau gả con gái cho. Người con gái nầy tên là Hoàng Thị
Loan, mẹ "bác Hồ". Ba qua đời ở Huế, khi ông Sắc chưa được làm quan,
lưu lạc về Phú Vang/ Thừa Thiên, dạy chữ Nho, độ nhật.
Nguyễn Sinh Sắc,
đậu vớt "phó bảng" năm 1901. Và mang ơn ông Ngô Đình Khả.
- "Ngô Đình
Khả là người theo Tây, tại sao ông Nguyễn Sinh Sắc lại mang ơn ông ta?"
Cháu nội hỏi.
- "Câu
chuyện hơi dài dòng, để từ từ ông nội kể."
- "Đời vua
Tự Đức, vua cho gọi cụ Vũ Văn Giáp, quê ở Phong Lâm, Bắc kỳ vào Huế để lo việc
đóng giày dép cho vua và hoàng gi, vì nghề nầy là nghề truyền thống của gia
đình cụ. Để có vật liệu: da trâu bò, vua cho cụ một vùng ruộng lớn ở phía Tây/
Bắc kinh thành Huế, bên kia sông Kẻ Vạn, để cụ Giáp nuôi trâu bò lấy
da. Vùng nầy, người Huế thường gọi là "Trại Bò" hay "Trại
Trâu". Cụ Vũ Văn Giáp là người quảng giao, lại nhờ sẵn phương tiện ăn ở,
ông thường giúp các sĩ tử về kinh đô thi cử, các người sắp được bổ ra làm quan
hay các quan nhỏ ... Ông Nguyễn Sinh Sắc, nhà không giàu có gì, khi về Huế,
thường ghé lại cư trú ở Trại Bò của ông Vũ Văn Giáp, xin "tạm trú tạm
vắng" mà chẳng xin phép Công An gì cả."
- "Hồi đó
làm gì có Công An, ông nội."
- "Chế độ
phong kiến mà, vua quan còn ngây thơ, ngu dốt, nên chưa biết cách "bảo vệ
nhân dân."
- "Bảo vệ
gì, kiểm soát, kềm kẹp nhân dân chứ." Cháu nội cằn nhằn.
- "Cháu
không sống dưới chế độ Cộng Sản. Sao rành thế. Hoan nghênh cháu. Hiện giờ,
người dân ở trong nước thì chẳng biết mẹ gì cả." Tôi nói.
- "Về nước,
cháu thấy người nghèo thì lo ăn tối mặt tối mày, còn người giàu lo chơi."
- "Lại hoan
hô cháu nội một lần nữa."
- "Có lẽ
người ta ngưỡng mộ tài ba của ông Hồ Sĩ Tạo, cũng như ông Nguyễn Sinh Sắc từng
ghé lại tạm trú tại "Trại Bò" của cụ Võ Văn Giáp, với lại con trai cụ
Giáp là ông Võ Bá Hạp, cũng là một sĩ phu, thi đậu mà không ra làm quan, vì làm
quan với triều đình cũng có nghĩa là làm quan cho Tây. Khi ông Nguyễn Sinh Sắc
thi hỏng, cụ Vũ Văn Giáp thương tình nói giúp với ông Ngô Đình Khả, bấy giờ là
thượng thư Bộ Lễ, coi việc thi cử, cũng như ông Cao Xuân Dục, chánh chủ khảo.
Hai ông nầy nể lời cụ Giáp, bèn xét lại kết quả khoa thi năm đó, cho ông Sắc
đậu phó bảng, đậu vớt. Trong khoa thi nầy, cụ Phan Chu Trinh
cũng hỏng. May nhờ vớt ông Nguyễn Sinh Sắc, nên phải vớt luôn cụ Phan Chu
Trinh.
Sau đây là kết
quả trích "Hoàng Triều Khoa Bảng Lục" tài liệu của cụ Cao Xuân Dục.
Tiến sĩ:
Nguyễn Đình Tuân
Ngô Đức Kế
Nguyễn Viết Thông
Nguyễn Đình Điển
Trần Văn Thống
Lê Ngải
Nguyễn Duy Tích
Nguyễn Văn Tính
Nguyễn Văn Bân
Phó bảng:
Nghiêm Châu Tuệ
Vũ Tuân
Nguyễn Đình Hiến
Lê Đình Xán
Hoàng Đại Bỉnh
Đỗ Dương Thanh
Vũ Vĩ
Nguyễn Mậu Hoán
Phạm Ngọc Thụy
Nguyễn Xuân Thưởng
Nguyễn Sinh Huy
Nguyễn Duy Thiện
Phan Chu Trinh
Sau khi được đậu vớt, năm 1901, ông Sắc cũng không làm
quan, xin về quê ở Nghệ An, làng Kim Liên, tục gọi là "làng Sen", tức
là làng của ông Nguyễn Sinh Nhậm. Ở Huế, người ta nói ông Sắc cũng muốn theo
giới sĩ phu thời bấy giờ, như cụ Võ Bá Hạp, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan
Bộ Châu, thi đậu là đề lấy cái tiếng, còn như bổ ra làm quan, thì không ai muốn
cả. Chính cụ Phan Bội Châu từng nói: “Quan trường thị nô lệ trung chi
nô lệ, hựu nô lệ”, nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những
người nô lệ, lại càng nô lệ hơn”.
Mãi đến năm 1905, ông về kinh đô, xin được bổ nhậm. Ông làm
"thừa biện bộ Lễ". Người ta cũng nói nhà ông Sắc nghèo muốn được ra
làm quan để qua cơn đói kém, không thể như các nhà cách mạng khác đươc."
Cháu nội nói: "Có lần ông nội nói, ở Huế, ông nội biết
cái nhà cụ Nguyễn Sinh Sắc từng ở với vợ con, tức là nhà ông Hồ Chí Minh ở với
cha khi ông còn niên thiếu."
- "Ngôi nhà nầy là nhà gạch, không rõ xây năm nào.
Thời đó là nhà ông Nguyễn Sinh Sắc ở, gần "ngã tư Anh Danh", sau nầy
là ngã tư Đinh Bộ Lĩnh/ Mai Thúc Loan, đối diện với nhà của Mệ Sen. Mệ Sen, tên
thật là Lương Linh, con gái, một trong 23 con gái của vua Thành Thái. Bà nầy
đẹp, bặt thiệp".
- "Ông nội thấy bà nầy lần nào chưa?"
- "Trước 1945, Mệ Sen làm thông ngôn cho Khâm Sứ Huế.
Mệ "nói tiếng Tây như "đầm". Thời Ngô Đình
Diệm, Mệ làm Trưởng Phòng Du Lịch Huế. Gọi là trưởng phòng nhưng Mệ làm việc
chỉ có một mình. Bọn học trò như ông nội, muốn nhìn Mệ, - vì nghe đồn Mệ đẹp
lắm -, thì tới Phòng Du Lịch xin tài liệu hướng dẫn thăm các lăng tẩm/ Huế. Mệ
phát tận tay nên thấy Mệ rõ lắm. Mệ không chồng, không con. Mệ ở với một cháu
gái, con vua Duy Tân, gọi Mệ bằng o. Cô nầy còn đẹp hơn Mệ. Nhiều thằng bạn của
ông nội làm cái đuôi dài, đạp xe đạp, chạy theo. Vui lắm.
- "Ông nội nói vui lắm là ông nội
có chạy theo."
- "Mất công, không hy vọng thì chạy theo làm gì mất
công. Chị ̣ của Mệ, "Công Chúa thứ 18" là vợ ông Đốc Hy. Ông
"đốc tờ" nầy anh bà con với mẹ của ông nội. Ông Đốc Hy, ông nội gọi
bằng "cậu", dân Quảng Trị, nhưng "Mệ 18" không bao giờ chịu
về Quảng Trị. Công chúa "hạ giá" mà. Còn "Mệ
16" là vợ luật sư Vương Quang Nhường, người Gò Công, từng làm tổng trưởng
thời "Đức Quốc Trưởng".
- "Ông nội nói, ông nội từng vô cái nhà hồi xưa ông
Nguyễn Sinh Huy ở?
- "Số là như thế nầy. Ngôi nhà nầy, hồi ông nội ở Huế
là "Hạt Thủy Lâm/ Huế, bên cạnh ngã tư ông nội mới nó. Sau lưng nhà là một
cây "bao-báp" - tiếng Tây là "baobab" -, khá cao nhưng gãy
ngang đọt vì trận bão năm 1952. Có đứa bạn ông nội lại bảo rằng không phải thế.
Vì loại cây nầy là loại thân có nhiều nước, cao koảng năm, bảy thước là không
cao hơn được, nhánh tỏa ra như bị gãy ngang đọt. Ông nội theo thằng bạn, bố nó
làm việc ở hạt nầy, vào coi cho biết. Nhưng ông nội biết thêm một
điều khác, cũng hay.
- "Cái gì hay ông nội?"
- "Khi các ông cha cố đến Việt Nam, cũng như Tây thực
dân, họ mang theo một số giống, đem trổng ở Việt Nam, sau nầy phát triển ra.
Hột cao su, hột cà phê từ Brasil về Việt Nam, cây "bao báp" từ Châu
Phi, hay cây phượng từ Madagascar.
- "Cây phượng ở các sân trường"?
- "Chính nó đấy. "Phương thắm ơi, phượng
thắm rơi đầy" là do công của mấy ông "cha Cố Tây râu ria xồm
xoàm."
9
"Đi về sao chẳng về đi..." Đào Tiềm
- "Khi nào thì ông Nguyễn Sinh Huy ra làm quan?"
- "Năm 1905 ông được bổ làm "Thừa Biện Bộ
Lễ", là bộ do ông Ngô Đình Khả làm thượng thư. Tới năm 1909 ông được bổ
làm "Tri Huyện Bình Khê" ở Bình Định.
- "Cũng do ông Ngô Đình Khả?" Cháu nội hỏi.
- "Không. Năm 1907 vua Thành Thái bị Tây "hạ
bệ", lấy cớ ông nầy bị bịnh điên."
- "Điên thật?"
- "Điên đâu. Chỉ lấy cớ mà thôi. Khi nào có dịp, ông
nội kể cho nghe, vạch cho cháu thấy thêm một số Đại Việt Gian ở Huế. Vua Thành
Thái bị truất ngôi, ông Ngô Đình Khả "rơi" theo.
- "Tại sao?"
- "Để có dịp nói nghe chơi, "rửa mặt" cho
ông Ngô Đình Khả. Bấy giờ vua Duy Tân ở ngôi. Ông nội không rõ do đâu, ông
Nguyễn Sinh Huy được bổ đi tri huyện Bình Khê, chưa được một năm, ông bị cách
chức."
- "Người ta nói ông ta đánh chết dân."
- "Không phải ông ta mà chính là "Để lính
đánh chết dân trong khi ông ta say rượu." Ác như thế, vô trách
nhiệm như thế chớ có là "nhà yêu nước" gì đâu. Dân Bình Khê thưa về
tới Kinh Đô Huế. Vua Duy Tân cho gọi về, điều ta. Đọc tờ trình, vua phê:
"trãm giam hậu", nghĩa là xử tử, nhưng chưa thi hành ngay, chờ gì đó,
v.v...
- "Chờ tiền???"
- "Nói bậy. Triều đình Huế chớ có phải "Bộ Chính
Trị" ở Hà Nội đâu. Nhờ vậy mà ông Nguyễn Sinh Huy thoát chết."
- "Nhờ ai ông nội."
- "Ba ông: Ông Cao Xuân Dục, người đã vớt cho ông
Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng; Hồ Đắc Trung, người sau nầy làm vụ án Vua Duy Tân
khởi nghĩa, năm 1916, và Đào Tấn, ông tổ hát bội Việt Nam. Nhờ ba ông nầy xin
với vua Duy Tân, án ông Nguyễn Sinh Huy được vua phê lại: "Phạt một trăm
trượng, cách chức, đuổi về".
- "Đánh một trăm trượng thì "tan da nát
thịt" còn gì nữa mà đuổi về."
- "Người ta có cách cháu à."
- "Cách gì, ông nội giải thích được không?"
- "Người ta làm như thế nầy. Tội nhân nằm trên sập,
người xử phạt cầm cây gậy, đầu chúc xuống. Khi đánh, đầu gậy đụng vào sập kêu
đánh cộp, nhưng không đụng vào đít người bị phạt. Đánh xong một trăm trượng,
người bị phạt... khỏe re, không can gì hết."
- "Rồi ông Huy có về quê không?"
- "Mặt mũi nào mà về. Ở quê, ai không biết ông Huy nhờ
quan trên mới đậu phó bảng. Vậy mà không lo làm quan, lo rượu chè nên mới ra
nông nỗi. Vậy là ông Huy đi về phương Nam, lưu lạc ở quê người. Ông làm nghề
chấm tử vi, thầy thuốc Bắc ở Chợ Bến Thành/ Saigon.
- "Còn các con ông thì sao?
- "Về quê. Sau khi ông Nguyễn Sinh Huy đi Nam rồi. Con
gái lớn là Nguyễn Thị Thanh theo cha, lo phụng dưỡng cho cha. Được một thời
gian, bà về quê. Ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh Khiêm, ở lại Huế một thời gian,
rồi cũng về quê. Năm 1945, khi Việt Minh bắt giam ông Võ Như Nguyện, con trai
nhà cách mạng Võ Bá Hạp, cháu nội cụ Vũ Văn Giáp, nhằm lúc ông Cả Khiêm đang có
mặt ở Huế, bèn can thiệp để thả ông Nguyện ra. Ông Khiêm cho rằng những người
trong gia đình Cụ Giáp cần phải được tôn trong tuyệt đối. Lần đó, ông Nguyện
được thả. Khi ông Nguyện bị bắt lần thứ hai, Việt Minh biết ông Hồ là một
"chiến sĩ Vô Sản" nên lời nói của ông Khiêm không còn được tôn trọng
nữa. Ông Nguyện phải trốn tù mới thoát khỏi lưỡi mã tấu của Việt Minh Huế.
- "Còn ông Hồ Chí Minh?"
- "Khi ông Huy còn ở Huế, ông Hồ Chí Minh, tức Nguyễn
Sinh Cung - tức Cuông - tức Nguyễn Tất Thành - lúc đó mới học xong lớp Ba ở
trường Pháp Nam, trường ở phía ngoài cửa Đông Ba, nhờ "tập ấm" được
cho vô học "Pháp Việt Học Đường", là trường do Ngô Đình Khả, theo
lệnh vua Thành Thái, can thiệp với Tây mà lập ra. Phe Tây thì muốn đào tạo tay
sai, phe vua thì muốn các quan phải nói được tiếng Tây để khỏi bị "thông
ngôn" xỏ mũi, dịch bậy, như trường hợp ông Bửu Lân được lên ngồi trên ngai
vàng."
- "Vậy ông Hồ Chí Minh có học trường Quốc Học?"
- "Chuyện tào lao. Người ta hay "tán bậy".
Theo ông nội biết, ông Hồ Chí Minh có tên học ở "Pháp Tự Học Đường"
là tên tiên khởi của trường Quốc Học, nhưng chưa học thì gặp gia biến. So ra
như thế nầy: Năm 1909, ông Huy bổ tri huyện, năm 1911, "anh" Nguyễn
Tất Thành xuống tàu Latouche Tréville đi Tây, chưa kể thời gian mấy tháng ông
Hồ ghé lại Phan Thiết, dạy học ở trường Dục Thanh, thì "ông Hồ Chí Minh
học Quốc Học khi mô"?
- "Ông Hồ cũng có làm thầy giáo?"
- "Học lực ông Hồ lúc đó là Lớp Ba trường Pháp Nam.
Trường nầy là một trường tư. Ông ta dạy được cái gì, dạy ai, khi học hành
"rứa" đó."
- "Có điều nầy đáng nói. Phong trào Đông Du lên cao từ
năm 1905. Tới 1910 thì xẹp dần, vì Tây Nhựt bàn nhau làm ăn như thế nào đó,
Nhựt bèn đuổi "du học sinh" Việt Nam ra khỏi Nhựt. Thầy trò Cụ Phan
ôm khăn gói qua Tàu. Người ta có vài câu hỏi:
- Một là, năm 1905 và vài ba năm
sau đó, khi ông Huy đang làm quan ở Huế, sao không cho cậu Cung theo Phong Trào
Đông Du như những người yêu nước. Như vậy, sao có thể gọi cha con ông Nguyễn
Sinh Huy là người yêu nước được?
- Thứ hai, khi vào Saigòn, cậu
Nguyễn Tất Thành không đi Nhựt, vì Phong Trào Đông Du đã xuống nên ông phải đi
Tây. Qua Tây, ông làm đơn xin Tây xét lại cho cha, bị cách
chức, xin phục hồi cho cha làm quan trở lại. Ông lại làm đơn
xin vô học Trường Thuộc Địa, trường đào tạo tay sai cho Tây. Vậy là
người yêu nước hay sao?"
- "Rồi ông đi Tây là xong."
- "Ông Hồ Chí Minh là người có tham vọng dữ lắm. Không
theo Tư Bản đựợc, ông theo Vô Sản. Con đường nào làm cho đời ông "đi
lên" thì ông đi.
- "Có chuyện nầy vui..."
- "Ông nội kể đi..." Cháu nội khuyến khích ông
nội.
- "Sau khi thấy theo Tư Bản không xong, ông Hồ Chí
Minh bèn theo Cộng Sản. Ông ta "đá đít" mấy cụ Phan Chu Trinh, luật
sư Phan Văn Trường, sinh viên Nguyễn Thế Truyền, mấy ông nầy từng giúp đỡ, nuôi
cơm ông Hồ Chí Minh khi ông mới tới Pháp. Mấy ông nầy cũng giận, bèn viết thư
về cho ông Nguyễn Sinh Huy lúc ấy đang hành nghề thuốc Bắc ở Chợ Bến Thành, nói
rằng "Cậu Thành con bác nay theo Cộng Sản tam vô..." Theo
Hoàng Văn Chì kể lại trong "Từ Thực Dân đến Cộng Sản", nhân một dịp
nào đó, Nguyễn Tất Thành về Saigon. Cha con gặp nhau, hàn huyên chưa được bao
lăm thì ông bố hỏi con về việc theo Cộng Sản. Ông con xác nhận, rồi cha con cãi
nhau một trận. Ông con chê ông cha là "hủ nho", như ông con từng chê
cụ Phan Chu Trinh như thế. Vậy là ông cha đùng đùng mắng chưởi, cầm cây chổi
lông gà đánh ông con. Ông con chạy xuống thang gác... Và từ đó, ông con không
còn gặp lại cha mà cũng từ rảy luôn gia đình, anh chị... Khi ông Hồ về Hà Nội
làm chủ tịch chính phủ lâm thời, ông Cả Khiêm cũng như bà Thanh ra thăm ông Hồ
một lần rồi thôi. Từ đó cho đến khi họ qua đời, anh chị em không bao giờ gặp
nhau lần thứ hai nữa. "Cán bộ Cộng Sản Quốc tế" thì phải sợ "Ông
Xít-Ta-Lin" chớ.
10
"Về Miền Tây, có ai về Miền Tây"
Sau khi ông Hồ Chí Minh trở thành cán bộ Cộng Sản, Mật Thám
Tây không thể không theo dõi "bố" ông Nguyễn Tất Thành, tức Nguyễn
Sinh Cung, tức Nguyễn Ái Quốc. Vì vậy, nhắm bộ không ở Saigon được, ông Nguyễn
Sinh Sắc, tức Huy, lưu lạc về Miền Tây. Nói rõ hơn là về Sadec, tiếp tục làm
nghề "thầy Thuốc Bắc" là chính, nghề phụ là "chấm tử vi",
"xem tướng" độ nhựt. Bấy giờ cô con gái lớn, Nguyễn Thị Thanh, không
theo cha phụng dưỡng nữa. Ông già Sắc một thân một mình đất khách quê người.
Do một sự tình cờ nào đó, ông chữa lành bệnh cho một cô gái
- Tôi tìm không ra tên người con gái nầy, chịu làm vợ ông để "trả ơn cứu
tử". Người nầy lấy ông Sắc đẻ cho ông một cậu con trai, rồi
thôi. Có lẽ hồi nầy ông Cụ Sắc cũng già rồi, tuy chưa già ngoắt cần câu.
Ông mất ở Sadec năm 1929, lúc mới 67 tuổ. Người con trai của ông Sắc đẻ ở
Sadec, tên là Vương Chí Nghĩa. Ông Sắc cũng sợ Tây. Từ họ Nguyễn, gốc là họ Hồ,
đổi sang họ Vương cho Mật Thám Tây khỏi "để ý". Ông Vương Chí Nghĩa
sinh 7 người con, 2 trai, 5 gái, một người tên là Vương Chí Hùng, người em tên
là Vương Chí Việt, nay là ông Thầy Tu - có người nói ông Thầy Tu nầy ăn mặn, có
bồ nhí, tu hành gì đâu! - Gọi là Thầy Chùa chắc đúng hơn vì ông có chùa - Chùa
Phật Quang - ở Núi Dinh, vũng Tàu. Tên ông thầy chùa nầy là Thích Chân Quang.
Ai muốn biết rõ hơn về ông Thầy Chùa nầy, nên hỏi "Ca sĩ Ngọc Mai".
Sau năm 1975, ông Thầy Chùa Thích Chân Quang có về Nghệ An
để tìm lại cái gốc họ Hồ của ông. Có điều lạ, ông Chân Quang không về làng
Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An mà ông về thăm họ Hồ ở làng Lai Nhã,
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Quỳnh Đôi là nơi chính thức vì ở đây có nhiều
lăng mộ, đền thờ họ Hồ.
11
"Ơn qua nghĩa lại"
Năm 1956, bỗng nhiên quận trưởng Cao Lãnh, Sadec được
lệnh xây mộ cho ông Nguyễn Sinh Sắc, chết năm 1929. Đây
là ngôi mộ đất, cỏ mọc xanh, có người chăm sóc, nhưng chỉ qua loa, sơ sài...
Được lệnh cấp trên thì ông quận trưởng, dân sự, không phải
quân nhân, thi hành, xây cất, sơn phết, chụp hình, "trình thượng
cấp". Ông không thắc mắc, mặc dù
ông cũng biết đây là mộ cha của ông Hồ Chí Minh ở ngoài Bắc.
Nhưng một số người Huế thì biết tại sao lại có lệnh xây
lăng cho thân sinh ông Hồ Chí Minh ở Sadec. Đây không phải là một việc "xã
giao" giữa hai "top" địch thủ Nam/ Bắc Việt Nam. Nhưng chính năm
1956, sau khi "vững ngôi cửu ngũ", theo phong tục của người Việt Nam,
gia đình ông Diệm, nhất là do ở chính ở ông ta, Ngô Đình Diệm, qua "Cậu
Cẩn", lo chỉnh đốn mồ mả ông bà, mà từ bao lâu nay, vì chiến tranh, thất
tán cả. Điều đáng lo, cha con ông Ngô Đình Khôi, bị Việt Minh giết năm 1945,
chết ngày tháng nào, chôn ở đâu, không biết rõ, chỉ nghe nói ở Ga Hiền
Sĩ, - đâu phải ngay ga Hiền Sĩ mà rừng Hắc Thú gần đó,
nhưng không rõ địa điểm nơi chôn, không có mồ mả, nói chi bia mộ. Những người
làm Việt Minh hồi đó, có liên can đến việc giết ông Khôi, nay không còn ai,
chết hay "tập kết" ra Bắc rồi.
Tập kết rồi?
Vậy là phải nhờ người ngoài Bắc. Ngoài đó thì có ai hơn Hồ
Chính Minh, một thời Ngô gia/ Hồ gia có mối quan hệ chặt chẽ, là thời gian ông
Nguyễn Sinh Sắc ở Huế: thi cử, làm quan. Vậy nên có người gặp ông Hồ Chí Minh
xin giúp đỡ. Ông Hồ Chí Minh bí mật cho người về Nam, tới ngay chỗ giết rồi
chôn 3 người: Hai cha con ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh.
Ông chú họ tôi, nơi tôi làm precepteur, - giáo tại gia -
thuộc "Đảng Cụ Ngô" - là những người từng là học trò Cụ Phan ở Bến
Ngự, từng là những người "theo phò" chí sĩ Ngô Đình Diệm từ thời Nhựt
thuộc, đứng đầu là ông Võ Như Nguyện, con trai nhà cách mạng Võ Bá Hạp, trả lời
câu tôi hỏi do đâu mà tìm ra nơi chôn cất cha con ông Tổng Đốc, - Ngô Đình Khôi
làm tổng đốc Quảng Nam, nổi tiếng ác.
Ông chú tôi cười: "Nếu người ta biết việc cha con
Nguyễn Sinh Sắc mang ơn ông nội ông Võ Như Nguyện như thế nào thì có chi phải
thắc mắc việc họ giúp nhau. Họ là người biết điều cả, "ơn qua nghĩa
lại".
12
Con người kiệt xuất...
Sau 30 tháng Tư, Dân biểu và "nhà Văn Hóa", - như
cách gọi của giới hoạt động văn hóa, văn nghệ Miền Nam trước 1975 -, Hồ Hữu
Tường ngồi tù Việt Cộng mấy năm. Khi ông gần chết, vì chính sách "khoan
hồng nhân đạo của Đảng và Nhà Nước", ông được tha ra khỏi trường
Cải Tạo, xe đưa ông về tới đầu ngõ thì ông trút hơi thở cuối cùng. Gia đình
lo chôn cất, "Đảng và Nhà Nước" đỡ tốn cái hòm.
Trong tất cả những người họ Hồ ở nước ta, kể từ Hồ Hưng
Dật, cho đến thế hệ sau cùng mà ông nội được biết như Hồ Xích Tú, con trai, Hồ
Tài Huệ Tâm, con gái ông, chỉ có ông Tường là con người kiệt xuất. Ông là người
xuất sắc trong nhiều lãnh vực: Nhà cách mạng, nhà chính trị, nhà văn hóa, nhà
báo, nhà giáo dục, nhà văn, tù nhân...
Không ở lãnh vực nào mà ông không "nhứt thiên
hạ".
Ông bị đày Côn Đảo tới hai lần, một lần thời Pháp thuộc và
một lần thời Diệm/ Nhu. Đúng ra, Diệm /Nhu cho ông cái án tử hình, nhưng giới
trí thức Pháp, nhất là Albert Camus, thủ tướng Nehru của Ấn Độ, có thư yêu cầu
với anh em Diệm/ Nhu nên ông khỏi phải chui đầu vào cái máy chém của ông Đội
Phước, như Ba Cụt. Người ta gọi ông là người tù muôn thuở, vì không
có thuở nào mà ông không vào ngồi nhà đá: Thời Tây, thời Diệm, thời Cộng Sản.
Không thời nào mà ông không được "hưởng". Có anh bạn tù trẻ hỏi ông:
"Tại sao thời nào bác cũng ở tù bác biết không?" Hồ Hữu Tường nói:
"Mày giải thích cho tao coi". Anh tù trẻ trả lời: "Bởi vì tên
bác là "Hữu Tường" nên thời nào bác cũng "hưởng tù". Ông
Tường cười: "Mày nói có lý đấy".
Theo quan điểm của nhiều người ở miền Nam trước đây, họ coi
ông là một nhà cách mạng, không riêng gì hoạt động chống Pháp đòi/ giành độc
lập từ khi ông còn du học ở Pháp, cho đến thời gian sau đó, khi ông đã về lại
Việt Nam, cũng như trong lãnh vực tư tưởng về văn hóa, trung lập, chủ trương
"Minh Đạo"... không còn coi chủ nghĩa Marx là cứu
cánh như những nhà cách mạng thuộc cánh Đệ Tam, mê muội mà theo Cộng
Sản như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, v.v...
Ông có nhiều hoạt động chính trị, từng tham chính, chủ
trương trung lập Việt Nam và Đông Dương, trước cả khi Ông Hoàng Sihanouk
thực hiện trung lập cho Kampuchia.
Ông cũng là một nhà văn hóa, kinh tế với nhiều sách, báo
bàn về văn hoá, kinh tế, chính trị...
Ông là một nhà "Lập Thuyết" kiệt xuất trong nhiều
lãnh vực về chính trị, kinh tế và xã hội.
Mặc dù đi sau "Trại Ruộng" của Đức Phật Thầy Tây
An (Đoàn Minh Huyên) một trăm năm, nhưng "Minh Đạo" của ông Hồ Hữu
Tường vượt xa "Ấp Chiến Lược" của ông Ngô Đình Nhu nhiều mặt. Trong
Minh Đạo, Hồ Hữu Tường kết hợp các tinh hoa của văn minh
nhân loại thành con đường mới để xã hội để xây dựng xã hội. Đó là
những cái mà ông Hồ Hữu Tường gọi là "Văn minh Khoa Học Kỹ Thuật" Tây
Phương, "Văn Minh Chính Ủy" của Marx, và "Văn Hóa Phật
Giáo" của người Việt Nam, không phải trong kinh Phật.
Nhìn một cách tổng quát, "Minh Đạo" của Hồ Hữu
Tường mang tính cách một "Chủ Nghĩa Xã Hội" đặt căn bản trên Dân Tộc
và Đạo Pháp của tình hình nước ta trước hiểm họa Cộng Sản và con đường đi tới
của dân tộc Việt Nam.
Làm Việc ở Cái Sắn một năm, vào thăm "Dinh Điền Cái
Sắn", tôi "lội" từ Kinh A cho tới Kinh 5, kinh 6/ Rọc-Bà-Ke, từ
Thạnh Tây qua tới "Đồng Chó Ngáp"/ Huệ Đức của An Giang, tôi
"ngộ" ra cái Dinh Điền, Khu Trù Mật... của tổng thống Ngô Đình Diệm.
Có nhiều cái "rất hay" của ông Diệm và nhiều cái "rất dở"
của giáo hội La Mã ở nước ta, vì thiếu cái "tính Dân Tộc" như trong
Minh Đạo. Phải chi Giáo Hội Thiên Chúa từ bỏ cái tham vọng muốn mở rộng
"đất Chúa", "ruộng Chúa" (mỗi một nhà thờ là một địa chủ),
"quân Chúa" (mỗi
một người lính là một người giương cao Thập Tự Giá đi giết quân thù như trong
"Thập Tự Chinh"), "dân Chúa", ai ai cũng phải xưng tội như Cộng
Sản bắt làm "kiểm Điểm", để "về với Dân Tộc" thì sự thành
công của Dinh Điền, Khu Trù Mật sẽ cao hơn.
Năm 1945, ông Hồ từng tham gia việc soạn lại chương trình
giáo dục, cải tổ từ chương trình Pháp, tiếp nối công việc của ông Hoàng Xuân
Hãn, khi ông Cụ Hãn làm bộ trưởng giáo dục, thời chính phủ Trần Trong Kim, cũng
như có lúc ông làm Phó Viện Trưởng viện Đại Học Vạn Hạnh. Nếu ông Minh Châu
không phải là một nhà tu hành, có lẽ người ta mời ông Tường ngồi ở cái ghế ấy.
Hồ Hữu Tường còn là một
tiểu thuyết gia.
Đọc ông, qua nhiều tác phẩm, tôi thích
nhất là "Phi Lạc sang Tàu", một tiểu thuyết "nói dốc" làm
say mê nhiều người, trong đó có bọn trẻ, như tôi, khi tôi đọc cuốn tiểu thuyết
năm tôi học lớp Nhứt. Cũng như mọi người, tôi thích cái "nói dốc" của
ông Tường, một cách nói dốc vừa vui vừa nhẹ nhàng, vui, mà sâu sắc, không làm
mất lòng ai cả, có thể cả Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch, những người bị ông
Hồ Hữu Tường đem ra đùa trong truyện.
Truyện ngắn "Con thằn lằn chọn
nghiệp" lạ lùng hơn. Truyện được giới văn học quốc tế chọn là một trong 50
truyện ngắn hay nhứt thế giới của thập niên 1950. Thời kỳ nầy, thế giới Tây
Phương đang ngó về Đông Phương, càng ngày càng đông, càng mạnh. Người ta yêu
thích Krishnamurti, nhưng ông ta là một nhà tu hành, một
"orator", hiểu biết về Phật "thiên kinh vạn quyển" vừa khó
đọc, khó hiểu". Đọc truyện trên của Hồ Hữu, nó rõ ràng và dễ hiểu hơn. Ai
chẳng biết mỗi hành động của chúng ta đều tạo ra một cái nhiệp - Karma - cho
bản thân. Chúng ta phải nhận quả của cái nghiệp ấy. Nghiệp ấy, ông Hồ kể trong
truyện: Sư Cụ tu đã lâu, có thể sắp thành chánh quả...
(trích)
...
"Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, đến ở am
khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh giác, nghe
được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách
đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ
tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu…. Rồi nó
nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân, thì làm sao
nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân,
đợi chừng nào người được giác rồi sẽ hay?
Rồi
con thằn lằn quyết định: Phải ngăn ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần thứ một
nghìn. Nó nghĩ được một kế: Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu, rán sức mà
uống cạn dĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa.
Một
sức mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt được ý nguyện: chỉ trong một hơi mà
dĩa dầu đã cạn: bộ kinh chỉ tụng được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc
nhiên, nhưng nghĩ: hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng
giám việc đắc đạo của mình. Âu là xếp kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường,
sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy.
Nhưng,
sau đó đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có
lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi xưa đã có lời
nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.
Và
một đêm kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nhìn lên dĩa
dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi
giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng:
- Loài
nghiệt súc! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!
Rồi tay
cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh
vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm
lửa mà thiêu mình..."
...
(hết trích )
Dĩ nhiên Sư Cụ không thành chánh quả vì mang nghiệp sát
sinh. Điều đó không quan trọng, mặc dù trong thâm sâu lòng Sư Cụ là muốn đọc
một ngàn thời kinh Di Lặc vì mong muốn nhân loại được sống trong hòa bình, an
lạc.
Nhưng trong cái Tâm (kinh Lăng Nghiêm) vẫn còn Dục
vọng, còn ham muốn thành Phật nên Sư Cụ không thể thành Phật
được. Dục, giống hình con mèo trong chai rượu Dubonnet. Trên nhãn hiệu chai
rượu có hình con mèo, trong hình con mèo lại có một con mèo nhỏ hơn, cứ thế mà
tiếp tục. Như trong hình học, hai đường song song sẽ gặp nhau ở điểm cuối cùng,
nhưng giả tỉ như chúng ta có theo hai đường song song tới cùng đi nữa thì chẳng
bao giờ tới được điểm cuối cùng của thiên nhai, để thấy hai đường song song gặp
nhau. Muốn đi tới cuối hai đường song song là muốn diệt dục, nhưng muốn đi tới
điểm cuối là còn dục, còn muốn... Có phải vì cái muốn đó mà Sư Cụ cầm dùi đánh
vào đầu con thằn lằn? Chúng ta, có người không rõ có thấy được tư tưởng ấy của
ông Hồ trong truyện ngắn nầy hay không?
Người ta nói Phật Pháp mênh mông. Tôi không ưa
"lội" vào trong cái mênh mông đó. Khoa học là những cái gì cụ thể,
thấy được, sờ được, tôi yêu thích nó. Còn như khi khoa học thành trừu tượng thì
tôi không thể thích được, học được. Có lẽ nhiều người, nhất là người Tây
Phương, thích câu chuyện con thằn lằn là vì lý thuyết từu tượng của Phật biến
thành thực tiễn. Đó là con thằn lằn, là dĩa dầu đậu phụng hay cái dùi chuông.
Tất cả là biểu tượng cho lòng ham muốn thành Phật của Sư Cụ đã đi tu nhưng tu
không trọn kiếp.
- "Trong các nhân vật nổi tiếng của họ Hồ, từ
trạng nguyên Hồ Hưng Dật, thái thượng hoàng Hồ Quý Ly, Bà Chúa thơ Nôm, vua
Quang Trung, Hồ Chí Minh, thì Hồ Hữu Tường là kiệt xuất hơn cả.
- "Ông nội thử so sánh vua Quang Trung với ông Hồ
Hữu Tường..
- "So sánh vua Quang Trung với Hồ Hữu Tường, ta
thấy họ hơn thua nhau cái gì? Một người đại thành công cho tới
khi qua đời. Tuy nhiên, tài năng và cơ hội, thường gọi là "phùng
thời", cũng như "Thời thế tạo anh hùng". Nhà Tây Sơn chỉ thua
khi không còn vua Quang Trung. Nếu vua Quang Trung sống thêm vài chục năm nữa,
Nguyễn Ánh khó có thể lên ngồi lên ngai vàng ở Huế. Còn ông Hữu Tường - người
"được" anh thanh niên gọi đùa là "hưởng tù", thất bại rất
nhiều lần, ở tù nhiều hơn là "không tù", thường gọi là "Sinh bất
phùng thời"... đến nỗi khi ông làm dân biểu, dân biểu Kiều Mộng Thu, báo
chí thời đó gọi là "Nàng Kiều lá đổ", "chơi trò du côn"
giật đứt xâu chuỗi ông đeo ở ngực, hột chuỗi rơi lẻng xẻng xuống bực thềm hạ
viện. Vậy mà ông đứng yên. Ông Tường hèn, nhát gan hay "kính trọng phụ nữ?
Người Việt Nam có khuynh hướng trọng văn khinh
võ. "Quan văn thất phẩm đã sang, Quan võ tứ phẩm còn mang gươm
hầu". Tôi cũng là người đứng trong câu tục ngữ đó.
Thật ra, vua Quang Trung không chỉ giỏi về võ. Ông là
một "minh quân", một nhà cải cách, một người - hiểu biết hay có tài?
- xây dựng đất nước. Vua Quang Trung "kiểm soát dân chúng" bằng
việc bắt mọi người ai cũng phải có "Thiên Hạ Đại Tín". Ông phá
chùa mà không ai cho ông là người "đàn áp tôn giáo" như thời
ông Ngô Đình Diệm. Ai muốn đi tu thì phải trãi qua một cuộc thi, một việc chưa
từng có trong lịch sử đạo Phật ở nước ta bao giờ, từ xưa cũng như nay. Ông là
người cho xây "Phượng Hoàng Trung Đô" chuẩn bị việc cai trị lâu
dài... Thế không phải là người "văn võ song toàn", biết suy nghĩ sâu
xa, tính chuyện lâu dài hay sao?
Ông Hồ Hữu Tường chưa từng tỏ rõ cái "võ
công" của ông tới cỡ nào. Khi ở Pháp, ông chỉ mới từ Marseille lên Paris
biểu tình cùng bạn bè trước điện Elisées, được Rosa Luxemburg khen là
gan - Tôi không rõ ông Tường có nói dốc như trong "Phi Lạc sang
Tàu" không? - đã bị Tây đuổi xuống tàu về nước. Nhưng một người hai lần
ngồi tù Côn Đảo mà còn soạn ra "Minh Đạo" (Trầm tư của một người tù mang tội tử hình) trong khi đang
ăn cơm tù thì người đó không thể là người hèn nhát.
Nhìn chung, vua Quang Trung hay ông Hồ Hữu Tường mỗi người
một cách. Nói theo cách thông thường thì "không ai giống ai. "Tính
chất Nam Bộ" trong con người ông Hồ khá rõ: "Hòa Đồng". Ông lại
còn chủ trương tờ báo "Hòa Đồng". Có người phê bình ông Hồ Hữu Tường
về điểm nầy khi họ nói rằng "con người có thể Hòa mà không Đồng". Có
dịp sẽ nói thêm sau.
Hai ông nầy chỉ có một điểm giống nhau, khỏi phải
"da ngựa bọc thây" như trong câu nói của Mã Viện. Vua Quang Trung
chết trên giường bệnh, bên cạnh vợ con, còn ông Tường được tha ra khỏi tù khi
ông hấp hối, trút hơi thở khi ở đầu con đường xóm đi vào nhà. Nhà nước Cộng Sản
khỏi tốn cho ông cái hòm gỗ tạp.
Tôi trích sau đây một bài báo viết về ông Hồ Hữu Tường:
(trích)
Hoạt động từ rất sớm trên báo chí, từ bí mật đến công khai
trong một không gian rộng (Pháp và Việt Nam), Hồ Hữu Tường thể hiện rõ vai trò
của một trí thức yêu nước dấn thân. Khát vọng đấu tranh cho lẽ phải, công bằng,
tự do và sự tiến bộ xã hội, đã cho ông nghị lực và dũng khí trải qua những ngày
tù tội gian nan, nguy hiểm để vẫn còn cảm hứng cầm bút, tiếp tục nói lên tiếng
nói của mình. Từ năm 1945, khi chọn hẳn con đường văn hóa, Hồ Hữu Tường có một
sức viết đáng ngạc nhiên: tác phẩm của ông dồi dào và đa dạng, vừa có tính đại
chúng, lại vừa có tính tư tưởng, vừa rất dân tộc, lại vừa rất hiện đại. Đặc
biệt, ông đưa tinh thần “phá chấp” của Phật giáo vào văn chương, nhằm vượt
thoát mọi quy phạm thường tình.
Đứng vững trên mảnh đất của dân tộc, tìm hiểu thế giới,
không ngừng thao thức về những bước đi và giải pháp cho Việt Nam, Hồ Hữu Tường
đã gửi vào trang viết của mình những chọn lựa, phán đoán, gợi ý, tiên cảm mà
hôm nay thời gian cho phép chúng ta nhận thấy rõ hơn giá trị của nó.
Để hiểu đời sống xã hội, văn hóa và văn chương Việt Nam,
không thể không đọc Hồ Hữu Tường. Tràn đầy cá tính, tự cho mình là “thuyền đi
gặp gió ngược”, không ngớt gian nan, Hồ Hữu Tường lại rất liên tài, rất dễ dàng
chấp nhận sự khác biệt nơi người khác và đặc biệt luôn tràn đầy lòng biết ơn.
Cái chất giễu nhại và phê phán trong trang viết của ông không hề dẫn đến hư vô,
chua chát, bi quan, nhằm hoài nghi sự sống, nó tràn đầy tinh thần hy vọng,
khoan dung, nó lành mạnh, phả lại sinh lực tự nhiên của muôn loài.
Sài Gòn, 27-9-2016
Nguyễn Thị Thanh Xuân.
(hết trích)
Người ta không thể nói ai tài hơn ai, khi mà người ta chưa
có cơ hội để thi thố hết tài năng của mình. Lưu Bị ba lần đến cái lều tranh của
Khổng Minh để mời ông ra. Khổng Minh không muốn ra vì ông biết nhà Hán đã hết
thời rồi. Thế rồi Gia Cát Lượng phải ra, thi thố tài năng, nhưng cuối cùng cũng
thúc thủ. Tài Năng và Thời Cơ. Sinh bất phùng thời tức là Trời
bắt vậy. Ai làm gì được? !
- "Còn giữa hai ông Hồ? Ông Hồ Chí Minh, so với ông Hồ
Hữu Tường, ông nội thấy sao?"
- "Trong di chúc, ông Hồ Chí Minh viết câu
nầy: "...phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê - nin và
các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu
bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột." Ý thứ hai là: "là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào
với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi
càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!"
- "Vậy thì ông Hồ Hữu Tường, ông
Hồ Chí Minh giống nhau thế nào được? Một người theo chủ
nghĩa Quốc Gia, một người theo chủ nghĩa Quốc Tế thì
khác nhau hoàn toàn. Thời kỳ Nam Bộ Kháng Chiến, mấy ông "Đệ Tứ Quốc
Tế" như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch, Trịnh Hưng
Ngẫu... đều bị "Đệ Tam" giết cả thì đủ biết Hồ Hữu Tường, Hồ Chí Minh
giống nhau thế nào được! Ông Tường thoát khỏi cái lưỡi mã tấu của ông Hồ Chí
Minh là may lắm rồi. Đòi gì nữa. Cháu nên nhớ bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản
là ghê gớm lắm, bôi lọ cũng dữ, che dấu cũng dữ, nên ông nội không căn cứ trên
những tài liệu tuyên truyền để nói về họ. Ông Hồ Chí Minh suốt đời nói
láo. Nói láo là bản chất của người Cộng Sản. Tuy nhiên, ông
nội nghĩ rằng "di chúc" là bản văn cuối đời nên thường người ta nói
thật. Di chúc của ông Hồ Chí Minh, không phải là bản văn tuyên truyền mà chính
là lời nói thật. Trong di chúc ông Hồ nói rằng "...phòng
khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê - nin và các vị cách mạng đàn anh
khác..." Có người đặt câu hỏi: "Tại sao ông Hồ Chí Minh
không nói "phòng khi tôi đi gặp vua Hùng, vua Quang Trung, ông
Trần Hưng Đạo..." Nói như thế, ông tự xác nhận ông không
còn là người Việt Nam nữa. Với Đức Trần Hưng Đạo, ông ta nói:
"Tôi
bác cùng theo nghiệp kiếm cung..."
Ông ta xưng với Đức Thánh Trần là tôi, gọi
Đức Trần Hưng Đạo bằng bác. Nói vậy, nghe có
thuận lỗ tai không?
Hai câu thơ sau, chính Hồ Chí Minh chê Đức Trần Hưng Đạo và
tự cao về mình, về ông ta:
"Bác
đưa một nước qua nô lệ,
Tôi dẫn năm
châu đến đại đồng.
"Bác" chỉ là một lãnh tụ cấp quốc gia, cứu
một nước khỏi bị nô lệ. Còn tôi, (Hồ Chí Minh), là một lãnh tụ cấp
quốc tế, dẫn dắt thế giới tới Thế Giới Đại Đồng, là chủ nghĩa Cộng
Sản.
Ông Hồ Hữu Tường thông minh, nhìn xa thấy rộng hơn ông Hồ
Chí Minh: Năm 1939, ông Hồ Hữu Tường từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản vì ông biết chủ
nghĩa ấy là ảo tưởng, không như ông Hồ Chí Minh, mê muội Cộng Sản cho đến cuối
đời. Nói sơ vậy chớ "sự nghiệp Cộng Sản" của
ông Hồ Chí Minh thì lớn lắm, cũng như "Sự nghiệp Quốc
Gia" của ông Hồ Hữu Tường là một rừng - Rừng tư
tưởng.
13
Còn ai nữa?
Hồ Học Lãm
Hồ Học Lãm là một nhà cách mạng Việt Nam, quê ở làng
Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mẹ ông từng theo Phong Trào Cần
Vương, khi vua Hàm Nghi "xuống chiếu Cần Vương" khi nhà vua lãnh đạo
phong trào kháng chiến chống Pháp ở vùng thượng du Nghệ Tĩnh. Bác ruột của ông
làm án sát tỉnh Nam Định, bị quân Pháp giết khi ông cùng binh lính triều đình
chống giữ thành Nam Định khi Tây đánh tỉnh nầy.
Ông theo phong trào Đông Du, học trường Chấn Võ ở Nhật,
cùng khóa với Tưởng Giới Thạch.
Sau khi bị Nhật đuổi ra khỏi nước, ông qua Tàu học quân sự
ở trường sĩ quan Bảo Định, lại cùng khóa với Tưởng. Ông tham gia cuộc Cách Mạng
Tân Hợi. Sau khi Tưởng cầm quyền ở Trung Hoa, ông trở thành sĩ quan cao cấp
trong quân đội của Tưởng.
Hồ Tùng Mậu thành lập An Nam Cộng Sản Đảng ở HồngKông, mời
ông gia nhập nhưng ông từ chối vì ông là đảng viên Quốc Dân Đảng Tàu. Tuy nhiên
ông vẫn hết lòng giúp đỡ các nhà cách mạng ViệtNam đang hoạt động bên Tàu,
không phân biệt họ có là Cộng Sản hay không.
Sau đó, ông gia nhâp Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội của
Kỳ Ngoại hầu Cường Để, rồi tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của Phan Bội Châu.
Ông cũng từng tham gia Phong Trào Việt Minh, nhưng năm
1943, ông qua đời vì bịnh tim lúc mới 60 tuổi./
xxx
Hồ Tùng Mậu
Hồ Tùng Mậu tên thật là Hồ Bá Cự, quê
ở Quỳnh Đôi, Nghệ An, cùng quê và cùng họ với Hồ Sĩ Tạo, là nội tổ của Hồ Chí
Minh. Ông nhỏ hơn Hồ Chí Minh 6 tuổi. Gia đình ông có nhiều ngưởi bị Tây bỏ tù,
giết vì tham gia các phong trào Cần Vương, Phong Trào Văn Thân.
Trong khi Nguyễn Tất Thành đi Tây, xin
vào học Trường Thuộc Địa để làm việc cho Tây, thì ông Hồ Tùng Mậu vẫn tiếp tục
con đường Đông Du, trốn qua Lào, qua Thái Lan, rồi từ đó, đi ngược lên Tàu.
Năm 1923, ông cùng với các nhà cách
mạng Việt Nam ở Quảng Châu như Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái thành lập "Tâm
Tâm Xã", tập trung một số thanh niên Việt Nam yêu nước ở bên
Tàu, mưu đồ giành độc lập cho đất nước.
Bấy giờ Hồ Chí Minh từ Nga về, dùng
"Tâm Tâm Xã" để tổ chức Cộng Sản Đoàn, coi như đám ông Hồ Tùng Mậu
lót ổ cho ông Hồ Chí Minh đẻ ra cái ổ Cộng Sản Việt Nam đầu tiên ở bên Tàu. Ông
Hồ Tùng Mậu "đỏ" tích cực từ thời gian đó. Không những tham gia tổ
chức Cộng Sản đầu tiên, ông còn làm giảng viên các khóa tuyên truyền Cộng Sản
cho các thanh niên Việt Nam ở bên đó. Từ Cộng Sản Đoàn, họ cùng Hồ Chí Minh
thành lập "Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội"
Cũng do Hồ Chí Minh, ông gia nhập đảng
Cộng Sản Tàu nên bị Tàu Tưởng bắt giam nhiều lần. Năm 1929, ông là thành viên
chi bộ hải ngoại của An Nam Cộng Sản Đảng, bị Tây đưa ra "tòa án vắng
mặt", kết án tử hình. Ông cũng là thành viên trong hội nghị thành lập đảng
ngày 3 tháng 2 / 1930 ở Hồng Kông.
Năm 1931, ông bị Cảnh Sát Anh bắt tại
Hồng Kông vì tội "chống phá nhà nước", nhưng được thả vì không đủ
chứng cớ. Đồng thời, bọn Thực Dân Anh ở Hồng Kông cũng ngầm báo cho
mật Thám Tây biết, rằng ông sắp đi Thương Hải.
Mật Thám Tây làm y như vụ bọn chúng
bắt cụ Phan Bội Châu trước đó 6 năm - 1925 - Ngay khi Hồ Tùng Mậu vừa tới
Thượng Hải, Mật Thám Tây bắt cóc, kẹp cổ đưa vào "Tô-Giới Pháp", đưa
xuống tàu thủy, đưa về Việt Nam, lập tòa án ở quê hương ông, Nghệ An, xử tử
hình, giảm xuống chung thân, đày qua nhiều nhà tù nổi tiếng độc ác
của Tây.
Tháng 3/ 1945, Nhật đảo chính Pháp,
ông được tha về quê, Nghệ An. Thủ tướng Trần Trọng Kim mời ông làm cố vấn,
nhưng chính phủ Trần Trọng Kim không phải là chính phủ Cộng Sản, nên ông không
tham gia được.
Sau khi Hồ Chí Minh thành lập chính Phủ Lâm Thời ở Hà Nội,
giao ông làm Chính Ủy Khu 4, sau đó làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Kháng Liên Khu IV.
Chức vụ sau cùng của ông là "Ủy Viên Dự Khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương
Đảng".
Ông Thầy của tôi - xem phụ lục - năm 1945, tham gia Vệ Quốc
Đoàn - tiền thân quân đội Cộng Sản -, đánh nhau với Tây ở Phalan, phía trên
Chépone, gần Savanankhet, trên đường số 9. Bỗng ông được đưa về Nghệ An, ở
trong lực lượng quân sự bảo vệ ông Hồ Tùng Mậu, bây giờ đang giữ chức Chủ Tịch
Ủy Ban Hành Kháng Liên Khu IV. Ông Hồ Tùng Mậu có một bầy dê, ngày ngày lấy sữa
cho ông dùng. Thấy vậy, nhiều người tỏ vẻ bất bình, vì dân chúng bấy giờ đang
đói, thiếu gạo, phải ăn khoai sắn. Một hôm ông thầy tôi "lỡ tay" - lỡ
tay là do ông nói - bắn chết con dê đực đầu đàn. Thế là không có sữa dê cho
"Cụ". Ông Thầy tôi bị điều tra. Ông sợ nên bỏ trốn về Đồng
Hới, vùng Tây chiếm đóng.
"Ngày 23 tháng 7 năm 1951, ông hy sinh trên đường đi
vào Liên Khu IV công tác, do bị máy bay địch Pháp phát hiện và bắn
chết tại Phố Còng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh
Hóa.
Tuy nhiên, nguyên nhân cái chết của Hồ Tùng Mậu vẫn còn
nhiều nghi vấn. Theo sử gia Laura Calkins, có rất nhiều tin đồn xung quanh cái
chết của Hồ Tùng Mậu. Một giả thiết đưa ra là Hồ Tùng Mậu tự tử vì trách nhiệm
của ông trong vụ nạn đói ở Thanh Hóa. Tình báo của Pháp xác nhận bí mật với
quan chức Mỹ rằng ông bị thanh trừng.
(trích Wikipedi)
xxx
Hồ Tài Huệ Tâm
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Hồ Tài Huệ Tâm làm giáo sư sử học tại Đại học Harvard, Mỹ. Bà lớn lên ở Sài Gòn, du học Mỹ năm 1966, lấy bằng thạc
sĩ, rồi tiến sĩ sử học Việt Nam và Trung Quốc ở Đại học Harvard vào năm 1977.
Sau đó bà dạy ở trường này từ năm 1980 tới nay.
Hồ Tài Huệ Tâm là con gái của nhà trí
thức cách mạng Hồ Hữu Tường, người đã từng tham gia tham gia phong trào Đệ Tứ Quốc
tế cùng với các ông Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu, và là dân biểu
đối lập dưới thời Đệ Nhị Cộng hòa
Việt Nam.
Bà nghiên cứu về lịch sử xã hội, nhất
là lịch sử miền Nam. Vấn đề lịch sử đầu tiên mà Hồ Tài Huệ Tâm chọn nghiên
cứu là phong trào nông dân mà điển hình là sự ra đời của các đạo Hòa Hảo và Cao Đài ở miền Nam Việt Nam: "Hòa Hảo và Cao Đài là
phong trào nông dân nhưng có mang tính tôn giáo, là hai hiện tượng rất miền
Nam."
14
Hậu quả của chiến tranh
Ai cũng biết chiến tranh để lại nhiều tai hại.
Trước hết, nó làm cho người ta có nhiều thhiên kiến. Ví dụ
như khi đọc bài nầy, người ta nghĩ đến ông Hồ Chí Minh, thậm chí người ta còn
cho rằng bài nầy viết ra để tán dương ông Hồ Chí Minh. Có khi họ không tiếc lời
máng nhiếc tác giả một cách tục tằn. Họ chưởi là bởi họ ghét ông Hồ, người đã
gây ra đau khổ cho người Việt Nam, cho gia đình họ hay chính bản thân họ. Nước
mất nhà tan là vì ai? Điều đó dễ thông cảm, nhưng chắc chi họ không
mượn cái cảnh bát nháo của người Việt hải ngoại để show up. Thứ nầy chì người
ta cũng chẳng quan tâm.
Nói về họ Hồ hay bất cứ họ nào, cũng chỉ là nói chung. Kẻ
xấu người tốt thiếu gì. Tôi viết bài nầy, chẳng qua trước hết, là do tôi có cái
tội mê sách. Hồi còn học cấp 1, cấp 2, tôi bị mẹ la không ít lần, bởi vì mẹ tôi
sợ tôi mê sách mà học dốt, hay bỏ học, có khi đọc quá, bị "tẩu hỏa nhập
ma" như hai người con trai của Cụ Ưng Quả, có một người là bạn tôi. Đọc
nhiều, dĩ nhiên cũng đọc nhiều tài liệu sách báo nói về họ Hồ.
Thứ hai, họ Hồ có nhiều cái hay, lý thú. Một người đàn bà
như Bà Chúa Thơ Nôm, như vua Quang Trung, như ông Hồ Hữu Tường không làm cho
chúng ta ngưỡng mộ, muốn biết thêm về họ hay sao?
Trên thực tế, chỉ nói ở nước ta, đâu phải chỉ có một họ Hồ
ở Quỳnh Đôi, Lai Nhã/ Nghệ An. Ở Thừa Thiên, họ Hồ ở làng Chuồn, tức làng An
Truyền, Hồ Đắc cũng là một họ lớn, nhiều người làm quan to, danh tiếng, trung
với vua, với nước.
"Quảng Trị tui", họ Hồ làng Cổ Thành là một họ
lớn, rất nhiều người làm thầy giáo, có mấy ông là thầy dạy anh em tôi.
Rất nhiều làng có người họ Hồ. Mấy năm làm cái công việc
"Tìm và Bắt", - không phài "Tìm và Diệt" như lính Mỹ -, tôi
biết không ít người Miền Nam, kể từ Vĩ Tuyến 17 xuống tới Cà Mau/ Hà Tiên, đọc
trong danh sách, hồ sơ... không ít người có họ Hồ. Số đông trong họ,
có tổ tiên là người theo Chúa Nguyễn vô Nam hồi thế kỳ 16, hoặc chậm hơn, trong
thời kỳ nội chiến Trịnh/ Nguyễn, như trường hợp ông Hồ Phi Khanh, tổ bốn đời
ông Hồ Thơm, hay tổ tiên "Thằng Thuộc con nhà nông vậy". Không thấy
người họ Hồ sang nước ta trong thời kỳ "Phản Thanh phục Minh." Thành
phần nầy, "Phục Minh phản Thanh", ở vùng Đồng Bằng sông Cửu Long,
phần đông họ Mạc (Mạc Cửu), họ Lâm (Đông Hồ Lâm Tấn Phát), họ Quách (Quách
Đàm), họ Vương (Vương Hồng Sển), họ Phan (Phan Thanh Giản), họ Mã, (Mã Tuyên),
họ Lý (Lý Long Thân)...
Người Việt Nam có nhiều họ, tính ra cũng trên sáu trăm.
Nhiều họ cũng nhiều danh tiếng.
Ông sui gia với tôi, họ "Nguyễn Cảnh", gặp nhau
sau khi hai chúng tôi đến Mỹ. Ông nói: Họ tui có 18 đời quận vương. Ông ấy
không "nổ" đâu, nhưng có lẽ 18 đời quận vương của ông gồm những ai,
ông ta cũng mù tịt. Tôi nói: "Ở Saigon có đường Nguyễn Cảnh Chân, ông ta
là một "danh nhân lịch sử".
Vì lịch sự, tôi không nói đến câu chuyện sau: Khi Nguyễn
Huệ đem quân ra Bắc lần thứ nhất, chúa Trịnh với các quan họp bàn mấy ngày rồi
mà vẫn chưa tìm được người cầm quân ra chống nhau với quân Tây Sơn, làm như
Nguyễn Huệ là cáo mà hàng tướng lãnh của Chúa Trịnh là gà, như trong câu tục
ngữ "Gà phải cáo". Cuối cùng, ông Nguyễn Cảnh Dị phải cầm quân ra
trận. Ông Dị vừa đi vừa khóc. Tính chung, 18 đời là không tính tới
ông Nguyễn Bặc, khai quốc công thần đời nhà Đinh, người chống lại việc thái hậu
Dương Vân Nga, lấy áo long bào mà mặc cho Lê Hoàn, lấy ngai vàng của con mà
trao cho tình nhân. Theo vài tài liệu khi tôi chưa vượt biên, người ta nói có
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du nữa đấy. Chưa có gì làm chắc nên tôi chưa có dịp bàn tới
đó vậy.
Sau câu chuyện nói với nhau, ông sui gia nói với con: Ba vợ
mày còn rành hơn tao. Coi như đó là chuyện vui.
Bài nầy không phải chính sử, như Việt Nam Sử Lược, Việt Sử Toàn Thư... Cũng không phải là
huyền sử, như "Huyền sử ca một người mang tên Quốc", hay truyện dã sử
mà bọn trẻ con rất mê... Đây là chuyện ông bà kể cho con cháu nghe, như "Mẹ
ru con ngủ", không phải để giải trí mà để cho đứa bé từ khi nằm
trong nôi, đã biết chuyện ông Phù Đổng "ăn hết bảy nong cơm, ba nong
cà", mà nhớ câu ca dao "Cơm với cà như cha với mẹ" của một xã
hội nông nghiệp.
Còn một điều mong ước nữa, những đứa
trẻ lớn lên ở Mỹ, học sử Mỹ, đọc sử Việt, do Việt Cộng viết, sẽ thấy Sử Việt
Nam là ở đây...
Chỉ vậy thôi, quý độc giả......
hoànglonghải
viết hồi tháng 1 tháng 2 năm 2024
Phục lục
Chuyện cũ như thế nầy:
Ông Nguyễn Văn Hai, nguyên là giám đốc Nha Đại Diện Giáo
Dục ở Huế, thời "Cậu Cẩn" làm "lãnh chúa miền Trung". Sau
khi đậu tiến sĩ toán ở Pháp, ông làm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Huế. Ông từng
làm Hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công/ Huế. Ông là người cho tôi
vào dạy ở trường nầy, nên có nhiều dịp nghe ông chuyện trò.
Cách đây chục năm, tôi từ Mass xuống Yardlands thuộc
Pennsylvania thăm ông. Ông đã 90 tuổi, còn tôi, cũng gần 80. Tôi nói với ông
vài chuyện chính, tôi kể lại đây:
Đoán biết tâm lý ông, tôi nói: "Thầy không bao giờ
được làm viện trưởng viện đại học Huế đâu."
Ông hỏi tại sao "cậu" nói vậy? ("cậu" là tiếng thân mật ông thường gọi các học trò gần
gũi của ông).
Tôi nói: "Tại vì Thầy học từ bên Tây về. Ở miền Nam
trước đây, muốn làm chức lớn, như viện trưởng viện đại học (có sinh viên - quân chúng - có người ủng hộ), thuộc
chính quyền thì phải học bên Mỹ về, do Mỹ đào tạo, là người của Mỹ. Học bên
Tây, bên châu Âu sao được."
Tôi hỏi tiếp: "Sau vụ Mậu Thân, thầy bị Cảnh Sát bắt
là tại làm sao?"
- "Họ sợ sinh viên Huế. Bắt tôi là để dằn mặt sinh
viên, phần đông thiên tả. Tôi là người không gần gũi với chính quyền. Cảnh Sát
cũng biết người, chỉ giữ tôi trong một phòng có lẽ là phòng làm việc trước đó.
Ra vô tự do, chẳng ai hỏi han gì. Được mấy hôm thì họ cho về."
- "Họ không hỏi gì về Ông Trí Quang?"
- "Họ biết tôi mốii quan hệ giữa tôi và ông
Trí Quang thời ông Cẩn còn sống. Tôi là gạch nối giữa ông Trí Quang và ông Cẩn,
như anh từng viết trong bài về vụ Đài Phát Thanh/ Huế. Nhưng khi tôi ở Pháp về
thì không còn. Lúc nầy có nhiều người "bu" chung quanh ông Trí Quang,
còn tôi thì xa ra..."
- "Họ đẩy thầy xa ra?"
- "Sao cậu biết?"
- "Đời mà Thầy. Khi còn ông Cha Thục, ai dám gần ông
Trí Quang. Còn bây giờ..." Tô bỏ lững.
- "Khi vụ "bàn thờ xuống đường" xảy ra, Thầy
Đức Tâm có đến gặp Thầy?"
- "Ông Trí Quang sai ông Đức Tâm đến gặp tôi."
- "Hỏi gì?" tôi hỏi, vội.
- "Nói như người ta thường nói. Ông Trí Quang ở trên
lưng cọp, xuống không được. Có lẽ muốn hỏi ý tôi. Entourage của ông Trí Quang
cũng hết kế rồi."
- "Thầy nói gì?" Tôi hỏi.
- "Tôi nói: "Đã nói rồi, không phải
là chính trị gia mà làm chính trị."
- "Ông Đức Tâm nói sao?"
- "Ông nổi nóng, nói to với tôi: "Anh không
được hỗn với Thầy."
- "Tình hình tới lúc đó mà không có lệnh từ Trung Ương
Cục?" Tôi thăm dò.
- "Cậu cho rằng ông Trí Quang là Cộng Sản?"
- "Hồi đó thì không, nhưng bây giờ thì nhiều người nói
như thế lắm. Muốn phục hưng "Tinh Thần Ngô Đình Diệm" thì
phải bôi đỏ Phật Giáo, nhất là mấy ông lãnh đạo Phật
Giáo Miền Trung."
Ông Hai cười, mai mỉa. Ông từng là "Cần Lao gộc"
ở miền Trung, nên biết rõ đám "Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm"
nầ...
- "Thầy không thấy cái gì đỏ nơi ông
Trí Quang?"
- "Nếu có thì thằng Liên Thành nó đã "diệt"
ông Trí Quang năm Mậu Thân rồi. Năm 1966, sau vụ "dẹp bàn thờ" đời
Liên Thành bắt đầu lên. Lúc đó nó làm "trưởng ty Cảnh Sát Đặc Biệt"
đấy. Quyền hạn trong tay nó, cần hồ sơ, tài liệu gì để "diệt" ai, có
khó gì với nó đâu. Sau lưng nó còn Đại Việt, còn quần chúng Huế. Nó không dám.
Qua đây nó có muốn nói bậy bạ gì chẳng được. "Gà ăn
bạc" mà.
- "Em định viết bài phản bác nó. Người Huế còn biết rõ
ông Tráng Cử, huống chi nó. Ông Tráng Cử được làm hiệu trưởng trường Sư Phạm
Huế, cũng nhờ Thầy.
- "Bỏ đi. Nó đâu có đáng cho mình đặt ngòi bút
xuống."
- "Theo Thầy, ông Trí Quang không phải là Cộng Sản
sao?"
- "Cái thế của ông, ông có muốn làm Cộng Sản cũng
không được."
- "Chỉ về phía Quốc Gia?
- "Đâu chỉ phía Quốc Gia, cả phía Mỹ, phía Việt Cộng,
không phía nào muốn cho ông Trí Quang làm Cộng Sản."
- "Trong bài viết về "Vụ Đài Phát Thanh Huế, em
có nói rằng đêm đó, khi vụ đàn áp xảy ra, Xịa bất ngờ. Cả nhà họ
Ngô cũng bất ngờ, ông Ngô Đình Thục cũng bất ngờ. Họ
không ngờ dân chúng Huế không "dữ" mà "mạnh" quá. Nhưng sau
đêm hôm đó, vì phải giúp chính quyền giải quyết xong sự rối loạn ở hai đầu cầu
Trường Tiền, về tới chùa Từ Đàm, dù khuya lắm, Xịa cũng đã chờ sẵn ông Trí
Quang ở Chùa Từ Đàm rồi. "Xịa" Huế là ai thầy biết đấy chớ. Em cũng
biết nữa mà. Cổ thì mang thánh giá mà đi chùa chăm lắm. Vì vậy, cuốc meeting
hai hôm sau, người ta thấy ông Trí Quang đổi khác: mềm mỏng, mà giọng điệ
thì cương quyết, đòi hỏi thì khiêm nhượng: 5 nguyện
vọng. Nguyện vọng thôi mà anh em nhà Ngô nuốt không vô.
- "Còn Cộng Sản?" Tôi hỏi.
- "Thành phần giai cấp như ông Trí Quang thì Cộng Sản
đời nào cho vô đảng. Nhưng Cộng Sản thì ở ngay trong chùa của ông Trí Thủ chứ ở
đâu. - Ông Đỗ Trung Hiếu, cán bộ Cộng Sản, cháu ông Trí Thủ, trốn
trong chùa của ông Trí Thủ ở Nha Trang chớ đâ, sau 1975 mới xuất đầu lộ diện.
Ông Trí Quang hay ông Trí Thủ cũng là một. Lãnh đạo một cuộc đấu tranh to lớn
như thế, ông Trí Quang đâu có thể ếch ngồi đáy giếng được. Bên
nầy, bên kia, ông ta cũng cần có tin tức, lập trường, chủ trương... để biết
đường mà đi./ (còn nữa... xem sau./ )